tiểu luận so sánh nhãn hiệu và tên thương mại

Đang xem: Tiểu luận so sánh nhãn hiệu và tên thương mại

hướng dẫn luận văn thạc sĩ ngành luật kinh tế với đề tài: Bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại theo pháp luật Việt Nam – Thực trạng và giải pháp, cho các bạn làm luận văn tham khảo

DOWNLOAD ZALO 0932091562 at BẢNG BÁO GIÁ DỊCH VỤ VIẾT BÀI TẠI: LUANVANPANDA.COM

Xem thêm: Phương Trình Đường Tải Tĩnh, Các Phương Pháp Phân Cực Cho Bjt

1 Comment 1 Like Statistics Notes

Xem thêm: Lý Thuyết Phương Trình Mặt Phẳng Lớp 12, Giải Toán 12 Bài 2 : Phương Trình Mặt Phẳng

12 hours ago   Delete Reply Block

Luận văn: Bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại theo pháp luật, 9đ

1. Thừa Thiên Huế, năm 2016 ĐẠI HỌC HUẾ TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HOÀNG QUỐC TÙNG BẢO HỘ NHÃN HIỆU VÀ TÊN THƢƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Chuyên ngành: Luật Kinh tế Mã số: 60 38 01 07 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. VŨ THỊ HẢI YẾN 2. 1 MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU…………………………………………………………………………..4 Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU VÀ TÊN THƢƠNG MẠI……………………………………………………..11 1.1 Khái quát về nhãn hiệu và tên thƣơng mại……………………………11 1.1.1 Khái quát về nhãn hiệu………………………………………………………………11 1.1.1.1 Khái niệm nhãn hiệu…………………………………………………………………11 1.1.1.2 Chức năng của nhãn hiệu………………………………………………………….11 1.1.2 Khái quát về tên thương mại………………………………………………………11 1.1.2.1 Khái niệm tên thương mại…………………………………………………………11 1.1.2.2 Chức năng của tên thương mại………………………………………………….12 1.1.3 Phân biệt nhãn hiệu và tên thương mại ………………………………………12 1.2 Lý luận về bảo hộ nhãn hiệu và tên thƣơng mại……………………12 1.2.1 Khái niệm bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại…………………………….12 1.2.2 Mối quan hệ giữa bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại………………….12 1.2.3 Ý nghĩa của việc bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại …………………..13 1.3 Khái quát quy định về bảo hộ nhãn hiệu và tên thƣơng mại trong các Điều ƣớc Quốc tế mà Việt Nam tham gia………………………13 1.3.1 Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp………………………………13 1.3.2 Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPs)……………………………………………………………….13 1.3.3 Thỏa ước Madrid và Nghị định thư Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa ……………………………………………………………………………..14 1.3.4 Hiệp ước Nice về phân loại nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ cho mục đích đăng ký các nhãn hiệu………………………………………………..14 1.3.5 Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (Hiệp định TPP)………….14 Chƣơng 2. THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU VÀ TÊN THƢƠNG MẠI…………………….15 2.1 Quy định về điều kiện bảo hộ nhãn hiệu và tên thƣơng mại……15 2.1.1 Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu………………………………………………………….15 2.1.2 Điều kiện bảo hộ tên thương mại………………………………………………….15 3. 2 2.2 Quy định về căn cứ xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và tên thƣơng mại……………………………………………………….15 2.2.1 Căn cứ xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu …………15 2.2.2 Căn cứ xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại …15 2.3 Quy định về chủ thể, nội dung, giới hạn quyền và thời hạn bảo hộ đối với nhãn hiệu và tên thƣơng mại……………………………………….15 2.3.1 Chủ thể, nội dung, giới hạn quyền và thời hạn bảo hộ đối với nhãn hiệu ………………………………………………………………………………………………..16 2.3.2 Chủ thể, nội dung, giới hạn quyền và thời hạn bảo hộ đối với tên thương mại………………………………………………………………………………………….17 2.4 Quy định về hành vi xâm phạm nhãn hiệu và tên thƣơng mại ..17 2.4.1 Hành vi xâm phạm nhãn hiệu………………………………………………………17 2.4.2 Hành vi xâm phạm tên thương mại………………………………………………18 2.5 Quy định về các biện pháp bảo vệ nhãn hiệu và tên thƣơng mại18 2.6 Những bất cập, hạn chế trong quy định pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu và tên thƣơng mại……………………………………………………….18 2.6.1 Bất cập, hạn chế trong quy định điều kiện bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại………………………………………………………………………………………….18 2.6.2 Bất cập, hạn chế trong quy định xác lập bảo hộ SHCN đối với nhãn hiệu và tên thương mại…………………………………………………………………………18 2.6.3 Bất cập, hạn chế trong quy định về xác định hành vi xâm phạm việc bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại……………………………………………………..18 2.6.4 Bất cập hạn chế trong quy định về các biện pháp bảo vệ nhãn hiệu và tên thương mại………………………………………………………………………………..18 Chƣơng 3. THỰC TIỄN BẢO HỘ VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO HỘ NHÃN HIỆU VÀ TÊN THƢƠNG MẠI……………………………………………………..20 3.1 Thực tiễn bảo hộ nhãn hiệu và tên thƣơng mại……………………….20 3.1.1 Tình hình xác lập quyền bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại………..20 3.1.1.1 Tình hình xác lập bảo hộ nhãn hiệu……………………………………………20 3.1.1.2 Tình hình bảo hộ tên thương mại……………………………………………….21 3.1.2 Tình hình xử lý vi phạm về bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại..21 4. 3 3.1.3 Thực trạng xử lý tranh chấp, xung đột trong việc bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại………………………………………………………………………………..22 3.2 Phƣơng hƣớng và các nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả hoạt động bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và tên thƣơng mại………………………………………………….23 3.2.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả hoạt động bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và tên thương mại….23 3.2.2 Các nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả hoạt động bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và tên thương mại ………………………………………………………………………………………………..23 3.2.2.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và tên thương mại………………………………….23 3.2.2.2 Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả bảo hộ sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và tên thương mại……………………………………………………..23 KẾT LUẬN………………………………………………………………………………..25 TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………………..26 5. 4 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đềtài Trong thời kỳ hội nhập, quyền sở hữu công nghiệp nói chung và quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và tên thương mại nói riêng được coi là tài sản quý giá của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua cũng đã nhận thức được rằng, nhãn hiệu và tên thương mại là công cụ cạnh tranh cực kỳ quan trọng. Một nhãn hiệu hay một tên thương mại được lựa chọn và chăm sóc cẩn thận là một tài sản kinh doanh có giá trị của hầu hết các doanh nghiệp. Thậm chí với một số doanh nghiệp, tài sản đó có thể là tài sản có giá trị nhất mà họ sở hữu. Lý do khi khách hàng đã quen với tên thương mại của doanh nghiệp, họ đánh giá cao nhãn hiệu, danh tiếng, hình ảnh hoặc một số phẩm chất của doanh nghiệp đó, họ sẽ trung thành với sản phẩm đó và sẵn sàng trả nhiều tiền hơn để mua sản phẩm mang nhãn hiệu mà họ thừa nhận và đáp ứng kỳ vọng của họ. Do có những tính chất tương đồng, tên thương mại có thể được bảo hộ như một nhãn hiệu thông qua cơ chế đăng ký với điều kiện tên thương mại đó đáp ứng khả năng phân biệt của một nhãn hiệu. Thông thường tên doanh nghiệp viết tắt, hoặc thành phần tên riêng trong tên thương mại được bảo hộ như nhãn hiệu, gọi là “house mark” – ”nhãn hiệu chính”, ví dụ như “HONDA”hay “PEPSI”, “TOYOTA”… Bởi thế, tạo dựng tên thương mại và sở hữu một nhãn hiệu với một hình ảnh và danh tiếng tốt tạo cho doanh nghiệp một lợi thế cạnh tranh so với đối thủ của họ. Việt Nam gia nhập WTO là một điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia vào một “sân chơi chung” của thương mại toàn cầu. Trước yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ tập trung vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng quy mô sản xuất mà còn cần khẳng định được uy tín và giá trị của doanh nghiệp mình. Gần đây, hàng loạt các vụ tranh chấp về nhãn hiệu, tên doanh nghiệp giữa các doanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp Việt Nam và giữa các doanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp nước ngoài là những hồi chuông cảnh báo nguy hiểm cận 6. 5 kề nếu doanh nghiệp Việt Nam không chú trọng đến việc xây dựng và bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại của mình trên thị trường trong và ngoài nước. Chính vì vậy mà việc bảo hộ quyền sở hữu đối với nhãn hiệu và tên thương mại là hết sức quan trọng và cần thiết. Với lý do trên, tác giả chọn nghiên cứu đề đề tài: “Bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại theo pháp luật Việt Nam – Thực trạng và giải pháp” 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đềtài Nhận thức được vai trò quan trọng của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung, bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại nói riêng trong bối cảnh kinh tế đất nước có nhiều chuyển biến sâu sắc, trong khoảng hơn mười năm qua, ở Việt Nam đã có nhiều công trình tập trung nghiên cứu về vấn đề này. Những công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo cao có thể kể đến như: 1. Lê Mai Thanh, Những vấn đề pháp lý về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, 2006. 2. Nguyễn Văn Luật, Bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, 2007. 3. Phan Ngọc Tâm, Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng nghiên cứu so sánh giữa pháp luật Liên minh Châu Âu và Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, 2011. Bên cạnh đó, cũng có nhiều luận văn thạc sỹ nghiên cứu về vấn đề này. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu kể trên đã phân tích, làm rõ được những vấn đề lý luận cơ bản về nhãn hiệu và phần nào đã phản ánh được thực trạng của việc bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam. Một số đề tàiđược nghiên cứu trong bối cảnh trước khi Việt Nam ban hành Luật SHTT và trước khi gia nhập WTO nên các kết quả nghiên cứu chưa phản ánh được tính khả thi của Luật SHTT và thực trạng bảo hộ quyền SHTT hiện nay. Sau 10 năm thực hiện Luật SHTT, với sự phát triển của kinh tế xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa, cần có sự nghiên cứu đánh giá thực trạng pháp luật và thực trạng thi hành pháp luật về SHTT để có những đề xuất hoàn thiện pháp luật trong tình hình mớiLiên quan đến bảo hộ tên thương mại đã có các công trình nghiên cứu và các bài viết đăng trên 7. 6 các tạp chí cụ thể như sau: Bài viết “Bảo hộ tên thương mại và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo hộ tên thương mại ở Việt Nam” TS. Nguyễn Thị Quế Anh – Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2002;“Một số vấn đề về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại trên thế giới” TS. Nguyễn Thị Quế Anh – Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2002; “Pháp luật về bảo hộ tên thương mại của một số nước trên thế giới và kinh nghiệm đối với Việt Nam” tác giả Bùi Huyền – Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, năm 2014; “Bảo hộ tên thương mại và nhãn hiệu – những tình huống có thể phát sinh” tác giả Lê Tùng – Tạp chí nghiên cứu pháp luật, năm 2014; “Tên thương mại và nhãn hiệu – từ cách định nghĩa đến tình huống pháp lý có thể phát sinh” tác giả Lê Tùng – Tạp chí nghiên cứu pháp luật, năm 2008; Luận văn thạc sỹ “Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam” Bùi Thị Huyền – Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội (Năm 2010); Luận văn Thạc sỹ “Xung đột giữa nhãn hiệu và tên thương mại trong bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam” Nguyễn Thị Thu – Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. (Năm 2012) … Những bài viết, công trình nghiên cứu trước đó đã phần nào làm rõ vấn đề bảo hộ tên thương mại theo pháp luật Việt Nam, việc vi phạm quyền bảo hộ tên thương mại theo pháp luật sở hữu trí tuệ và thực tiễn giải quyết. Tuy nhiên, vẫn chưa giải quyết được những vấn đề thực tiễn đặt ra như: Tình trạng tranh chấp, xâm phạm quyền đối với tên thương mại vẫn diễn ra khá phổ biến, các doanh nghiệp Việt Nam chưa chủ động trong việc bảo hộ tên thương mại, hiểu biết về tên thương mại nói chung và điều kiện bảo hộ tên thương mại nói riêng chưa được đầy đủ. Các quy định về bảo hộ tên thương mại trong pháp luật sở hữu trí tuệ vẫn còn chưa thật sự thống nhất, bộc lộ nhiều bất cập và hạn chế. Sự thiếu nhất quán trong việc quy định thẩm quyền của các cơ quan hữu quan, cơ quan đăng ký tên doanh nghiệp và cơ quan bảo hộ tên thương mại… đã gây ra nhiều tranh chấp khó giải quyết, ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, cũng như ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh lành mạnh. 8. 7 Thông qua việc nghiên cứu đề tài “Bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại theo pháp luật Việt Nam – Thực trạng và giải pháp” tác giả sẽ phân tích, làm rõ hơn thực trạng bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại ở Việt Nam hiện nay, đồng thời đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ và các văn bản pháp luật liên quan về bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đềtài 3.1. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở tìm hiểu những vấn đề lý luận về bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại, các quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại; nghiên cứu đánh giá thực trạng áp dụng các quy định pháp luật trên về bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại ở Việt Nam hiện nay. Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại và nâng cao hiệu quả trong việc bảo hộ tên thương mại ở Việt Nam giai đoạn tới để đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra trong xu thế hội nhập quốc tế. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được những mục tiêu đặt ra ở trên, luận văn cần thực hiện một số nhiệm vụ sau: Phân tích làm rõ một số khái niệm về nhãn hiệu và tên thương mại, khái niệm bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại và quy định của pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế về bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại. Phân tích cơ sở lý luận về bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại, đồng thời phân tích đáng giá những quy định pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành về bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại. Phân tích, đánh giá thực trạng bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại ở Việt Nam hiện nay và việc áp dụng quy định của pháp sở hữu trí tuệ để bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại hiện nay. Nêu lên những bất cập, tồn tại, hạn chế trong quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ và một số các văn bản pháp luật liên quan cũng như thực tế áp dụng pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại ở Việt Nam hiện nay. 9. 8 Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ về nâng cao hiệu quả bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại ở Việt Nam. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đềtài 4.1. Đối tƣợng nghiên cứu Tập trung chủ yếu những vẫn đề lý luận, thực trạng và thực tiễn liên quan đến bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại, các quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ cũng như các công ước, hiệp ước quy định về vấn đề bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại. Thực tiễn thực hiện quyền bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại, từ đó đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp hoàn thiện. Nhìn tổng thể các khái niệm, quy định của pháp luật đến đi sâu phân tích thực trạng, tình hình để đưa ra các giải pháp hoàn thiện. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Về phạm vi thời gian: nghiên cứu trong đề tài từ năm 2005 đến năm 2016. Tập trung nghiên cứu các văn bản pháp luật từ khi Luật thương mại năm 2005, Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 có hiệu lực về bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại, có đối chiếu so sánh với các văn bản quy phạm pháp luật trước đó và có liên hệ các công ước, hiệp định quốc tế mà Việt Nam tham gia,… Phạm vi không gian: Thực trạng bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại ở Việt Nam theo pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam và thực tiễn giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến nhãn hiệu, tên thương mại ở Việt Nam. Luận văn còn có một phần nhỏ dẫn chứng các quy định về bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại trong các ĐƯQT. Đồng thời, đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật, cũng như hiệu quả áp dụng trên thực tế thông qua việc phân tích các số liệu và một số vụ việc tranh chấp xảy ra tại Việt Nam. 5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu 5.1. Phƣơng pháp luận nghiên cứu Vận dụng phương pháp luận khoa học duy vật lịch sử và duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, phép biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lê nin, quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh để làm rõ những vẫn đề đã được giải quyết, những bất cập tồn tại và đưa ra giải pháp hoàn thiện. 10. 9 Vận dụng các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về sở hữu trí tuệ và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, về nhiệm vụ phát triển đất nước qua từng giai đoạn phát triển các Nghị quyết, báo cáo chính trị,… 5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu tác giả sử dụng các phương pháp cụ thể như sau: Phƣơng pháp nghiên cứu pháp lý truyền thống: phương pháp này được sử dụng chủ yếu trong chương I và chương II. Phƣơng pháp so sánh:phương pháp này sẽ được sử dụng trong chương I, chương II và chương III khi so sánh quy định về bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại theo pháp luật Việt Nam và các ĐƯQT. Phƣơng pháp thu thập, tổng hợp, phân tích: được sử dụng trong chương III để thu thập, tổng hợp số liệu và phân tích các số liệu. Phƣơng pháp đánh giá, quy nạp: được sử dụng ở chương II và chương III để đánh giá những tác động của các quy định pháp luật. Ngoài ra tác giả còn sử dụng các phương pháp lịch sử cụ thể để tập hợp thống kê những quy định nghiên cứu trước đó để làm rõ; 6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn 6.1. Ý nghĩa về lý luận Góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại thông qua việc đánh giá những bất cập, hạn chế được rút từ thực tiễn phân tích, đánh giá hệ thống các quy định của pháp luật hiện hành, thực trạng hoạt động bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại. Từ đó đề ra những giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật có liên quan. 6.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn Sau khi hoàn thành, luận văn có thể trở thành tài liệu tham khảo cho các cơ quan, cấp, ngành trong việc nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ tên nhãn hiệu và thương mại và đánh giá chính xác được thực trạng, khó khăn, bất cập trong việc bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại trong các văn bản pháp luật hiện hành. Luận văn cũng là nguồn tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, sinh 11. 10 viên quan tâm đến vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và bảo bộ nhãn hiệu và tên thương mại nói riêng. Luận văn sẽ góp phần đánh giá thực trạng bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại của các doanh nghiệp ở Việt Nam, từ đó chứng minh được tầm quan trọng của công tác bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại trong tiến trình phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế, để các doanh nghiệp nhận thức được. Đồng thời đề xuất các giải pháp hoàn chỉnh cơ chế thực thi công tác bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại, giải quyết tranh chấp và xử lý các hành vi vi phạm về nhãn hiệu và tên thương mại, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, giúp các doanh nghiệp hoạt động chân chính bảo vệ được quyền lợi của mình. 7. Cơ cấu của luận văn: Luận văn bao gồm 3chương Chƣơng I: Một số vấn đề lý luận về bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại Chƣơng II: Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại Chƣơng III: Thực tiễn bảo hộ và các giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại 12. 11 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU VÀ TÊN THƢƠNG MẠI 1.1 Khái quát về nhãn hiệu và tên thƣơng mại 1.1.1 Khái quát về nhãn hiệu 1.1.1.1 Khái niệm nhãn hiệu Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền SHTT (Hiệp định TRIPs). Tại khoản 1, Điều 15 Hiệp định TRIPs đưa ra khái niệm về nhãn hiệu như sau: “Bất kỳ một dấu hiệu hoặc một tổ hợp nào có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của một doanh nghiệp khác. Đều có thể làm nhãn hiệu hàng hóa. Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, chữ cái, chữ số, các yếu tố hình họa và tổ hợp các màu sắc bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng ký nhãn hiệu. Trong trường hợp bản thân các dấu hiệu không có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ tương ứng các thành viên rằng điều kiện để được khả năng đăng ký phụ thuộc vào tính phân biệt đạt được thông qua sử dụng. Các thành viên có thể quy định rằng điều kiện để được đăng ký dấu hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được.” Dựa trên tinh thần của các ĐƯQT đã ký kết, Việt Nam cũng đã cụ thể hóa khái niệm nhãn hiệu vào trong Luật SHTT – luật chuyên ngành của Việt Nam về SHTT. Theo khoản 16, Điều 4 Luật SHTT quy định: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.” 1.1.1.2 Chức năng của nhãn hiệu Nhãn hiệu có các chức năng sau: Chức năng phân biệt và chỉ dẫn nguồn gốc; Chức năng quảng cáo hoặc tiếp thị và Chức năng bảo đảm chất lượng 1.1.2 Khái quát về tên thương mại 1.1.2.1 Khái niệm tên thương mại Luật SHTT đã đưa ra khái niệm khá đầy đủ về tên thương mại và điều kiện bảo hộ tên thương mại như sau: 13. 12 Khoản 21 Điều 4 Luật SHTT quy định: “Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh”. 1.1.2.2 Chức năng của tên thương mại Tên thương mại có hai chức năng là chức năng thông tin và chức năng phân biệt. 1.1.3 Phân biệt nhãn hiệu và tên thương mại Phân biệt nhãn hiệu và tên thương mại được dựa trên các tiêu chí sau: Thứ nhất, về khái niệm Thứ hai, về thành phần cấu tạo Thứ ba, về điều kiện bảo hộ Thứ tư, về căn cứ xác lập quyền Thứ năm, về phạm vi bảo hộ và thời hạn bảo hộ 1.2 Lý luận về bảo hộ nhãn hiệu và tên thƣơng mại 1.2.1 Khái niệm bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại Bảo hộ nhãn hiệu, tên thương mại là một phần của bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp. Dưới góc độ pháp lý, bảo hộ nhãn hiệu, tên thương mại là việc Nhà nước ban hành ra các văn bản pháp luật về việc xác lập, bảo vệ và thực thi quyền đối với nhãn hiệu, tên thương mại. Như vậy, có thể hiểu bảo hộ sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, tên thương mại bao hàm hai nội dung: Thứ nhất: là hệ thống các quy định của pháp luật trong việc xác định các điều kiện bảo hộ, xác lập quyền đối với nhãn hiệu, tên thương mại và nội dung của quyền này ; Thứ hai: là tổng hợp các quy định pháp luật xác định các hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, tên thương mại và các biện pháp ngăn chặn, xử lý các hành vi xâm phạm. 1.2.2 Mối quan hệ giữa bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại Nhãn hiệu và tên thương mại là một trong những đối tượng bảo hộ của QSHCN và rộng hơn là đối tượng SHTT nên việc bảo hộ chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Mối quan hệ này được thể hiện bằng quy định tại Điểm j Khoản 2 Điều 74,Khoản 3 Điều 78 Luật SHTT. 14. 13 1.2.3 Ý nghĩa của việc bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại Việc bảo hộ đó có ý nghĩa quan trọng thể hiện qua một số điểm sau: Thứ nhất:Đối với doanh nghiệp quy định về bảo hộ quyền sở hữu đối với nhãn hiệu và tên thương mại giúp bảo đảm quyền lợi của doanh nghiệp – chủ sở hữu hợp pháp của nhãn hiệu. Thứ hai: Bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu và tên thương mại cũng là bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng. Thứ ba: Việc bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho việc thu hút đầu tư và chuyển giao công nghệ nước ngoài. Thứ tƣ: Bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại cũng là bảo hộ lợi ích quốc gia trong lĩnh vực SHCN. 1.3 Khái quát quy định về bảo hộ nhãn hiệu và tên thƣơng mại trong các Điều ƣớc Quốc tế mà Việt Nam tham gia 1.3.1 Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp Về Nhãn hiệu,Công ước Paris không quy định các điều kiện nộp đơn và đăng ký nhãn hiệu mà dành việc này cho luật quốc gia của các nước thành viên. Một khi nhãn hiệu được đăng ký tại một nước thành viên, đăng ký đó sẽ độc lập với đăng ký có thể có tại bất cứ nước thành viên nào khác. Bảo hộ tên thương mại được quy định tại Điều 8 công ước này. 1.3.2 Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPs) Hiệp định TRIPs quy định rất rộng về phạm vi các dấu hiệu có khả năng được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu; quyền độc quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu đối với nhãn hiệu mà mình đã đăng ký… Hiệp định TRIPs tuy không có quy định nào về tên thương mại, nhưng theo cơ quan phúc thẩm của WTO, trong vụ US – Section 211 Appropriation Act, các nước thành viên có nghĩa vụ bảo hộ tên thương mại theo Điều 8 , Công ước Paris (1967) bởi vì quy định này đã được chuyển tải vào Điều 2 , Hiệp định TRIPs. 15. 14 1.3.3 Thỏa ước Madrid và Nghị định thư Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa Thỏa ước Madrid quy định về nhãn hiệu hàng hóa (bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ). 1.3.4 Hiệp ước Nice về phân loại nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ cho mục đích đăng ký các nhãn hiệu . Hiệp ước thiết lập một sự phân loại nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ cho mục đích đăng ký các nhãn hiệu. 1.3.5 Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (Hiệp định TPP) Quyền SHTT được quy định tại Chương 18 của Hiệp định TPP, trong đó Mục C quy định cụ thể về nhãn hiệu. 16. 15 Chƣơng 2 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU VÀ TÊN THƢƠNG MẠI 2.1 Quy định về điều kiện bảo hộ nhãn hiệu và tên thƣơng mại 2.1.1 Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu Theo quy định tại Điều 72 Luật SHTT thì nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng hai điều kiện sau: “1. Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc; 2. Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác.” 2.1.2 Điều kiện bảo hộ tên thương mại Luật SHTT quy định tên thương mại được bảo hộ khi đáp ứng được hai điều kiện: trước hết phải là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh và có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên thương mại đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh. 2.2 Quy định về căn cứ xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và tên thƣơng mại 2.2.1 Căn cứ xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu Xác lập quyền SHCN đối với nhãn hiệu thông qua các hình thức sau: Xác lập trên cơ sở đơn xin cấp văn bằng bảo hộ; Xác lập trên cơ sở thực tiễn sử dụng; Xác lập thông qua các hình thức như hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc thông qua quan hệ thừa kế. 2.2.2 Căn cứ xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại 2.3 Quy định về chủ thể, nội dung, giới hạn quyền và thời hạn bảo hộ đối với nhãn hiệu và tên thƣơng mại Tên thương mại được xác lập dựa trên cơ sở thực tiễn sử dụng; Xác lập thông qua hợp đồng chuyển nhượng hoặc được hưởng thừa kế. 17. 16 2.3.1 Chủ thể, nội dung, giới hạn quyền và thời hạn bảo hộ đối với nhãn hiệu Chủ thể bảo hộ đối với nhãn hiệu Việc xác định chủ sở hữu nhãn hiệu có thể dựa trên đặc điểm và trình tự xác lập quyền đối với nhãn hiệu. Tại Khoản 1 Điều 121 Luật SHTT và Điều 15 Nghị định 103/2006/NĐ-CP cũng đã quy định khá rõ chủ thể có quyền sở hữu đối với nhãn hiệu. Nội dụng bảo hộ đối với nhãn hiệu Theo quy định tại Khoản 1 Điều 123 Luật SHTT, chủ sở hữu nhãn hiệu có những quyền năng cơ bản sau đây: Thứ nhất, quyền sử dụng nhãn hiệu. Thứ hai, quyền cho phép người khác sử dụng nhãn hiệu Thứ ba, quyền ngăn cấm người khác sử dụng nhãn hiệu. Thứ tư, quyền định đoạt nhãn hiệu. Giới hạn quyền bảo hộ đối với nhãn hiệu Theo quy định Điều 132 Luật SHTT thì yếu tố hạn chế quyền sở hữu đối với nhãn hiệu đó là nghĩa vụ sử dụng nhãn hiệu. Cũng theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 Luật SHTT quy định về nghĩa vụ sử dụng nhãn hiệu: “Chủ sở hữu nhãn hiệu có nghĩa vụ sử dụng liên tục nhãn hiệu đó. Trong trường hợp nhãn hiệu không được sử dụng liên tục từ năm năm trở lên thì quyền sở hữu nhãn hiệu đó bị chấm dứt hiệu lực theo quy định tại Điều 95 của Luật này.” Thời hạn bảo hộ đối với nhãn hiệu Theo quy định tại Khoản 6 Điều 93 Luật SHTT thì “Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có hiệu lực từ ngày cấp đến hết mười năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần mười năm”. Quyền SHCN đối với nhãn hiệu phát sinh trên cơ sở đăng ký quốc tế được Nhà nước bảo hộ từ ngày đăng ký quốc tế được công bố trên Công báo nhãn hiệu quốc tế của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới đến hết thời hạn hiệu lực đăng ký quốc tế theo Thoả ước Madrid. Theo quy định tại Điều 6 Thoả ước Madrid thì: “Đăng ký nhãn hiệu tại Văn phòng quốc tế 18. 17 có hiệu lực trong vòng 20 năm với khả năng gia hạn theo điều kiện quy định tại Điều 7”. 2.3.2 Chủ thể, nội dung, giới hạn quyền và thời hạn bảo hộ đối với tên thương mại Chủ thể bảo hộ đối với tên thƣơng mại Theo quy định tại Khoản 2 Điều 121 Luật SHTT thì “Chủ sở hữu tên thương mại là tổ chức, cá nhân sử dụng hợp pháp tên thương mại đó trong hoạt động kinh doanh”. Nội dụng bảo hộ đối với tên thƣơng mại Quyền đối với tên thương mại về bản chất là việc bảo đảm cho chủ sở hữu tham gia vào các giao dịch dưới tên thương mại của mình. Theo đó, chủ sở hữu tên thương mại có các quyền cơ bảnnhư:Quyền sử dụng tên thương mại và Quyền định đoạt Giới hạn quyền bảo hộ đối với tên thƣơng mại Luật sở hữu trí tuệ cũng quy định việc chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được thực hiện các quyền của mình nhưng không làm phương hại đến lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác và không được vi phạm các quy định khác của pháp luật có liên quan. Thời hạn bảo hộ đối với tên thƣơng mại Thời hạn bảo hộ đối với tên thương mại là mãi mãi cho đến khi chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại đó không còn sử dụng tên thương mại đó nữa. 2.4 Quy định về hành vi xâm phạm nhãn hiệu và tên thƣơng mại Cơ sở xác định hành vi xâm phạm nhãn hiệu: Theo Luật SHTT thì hành vi bị xem xét bị coi là hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và tên thương mại khi có đủ các căn cứquy định tại Điều 5 Nghị định 105/2006/NĐ-CP 2.4.1 Hành vi xâm phạm nhãn hiệu Hành vi xâm phạm nhãn hiệu được quy định tại Khoản 1 Điều 129 Luật SHTT 19. 18 2.4.2 Hành vi xâm phạm tên thương mại Hành vi xâm phạm tên thương mại được quy định tại Khoản 2 Điều 129 Luật SHTT 2.5 Quy định về các biện pháp bảo vệ nhãn hiệu và tên thƣơng mại Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu nhãn hiệu bao gồm: biện pháp tự vệ, biện pháp hành chính, biện pháp dân sự, biện pháp hình sự và biện pháp kiểm soát biên giới. 2.6 Những bất cập, hạn chế trong quy định pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu và tên thƣơng mại 2.6.1 Bất cập, hạn chế trong quy định điều kiện bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại Thứ nhất, khái niệm nhãn hiệu và điều kiện đối với nhãn hiệu được quy định không có sự thống nhất. Thứ hai, tình trạng quy định của Luật SHTT về điều kiện bảo hộ tên thương mại chưa rõ ràng. Thứ ba, quy định của pháp luật chưa bảo đảm tính khái quát và chưa dự liệu đến các trường hợp xung đột nhãn hiệu và tên thương mại trong một số trường hợp 2.6.2 Bất cập, hạn chế trong quy định xác lập bảo hộ SHCN đối với nhãn hiệu và tên thương mại Thứ nhất, quy định về thủ tục xác lập quyền SHCN đối với nhãn hiệu nổi tiếng còn chưa hợp lý. Thứ hai, căn cứ xác lập QSHCN đối với tên thương mại gây khó khăn cho các chủ thể liên quan Thứ ba, việc tra cứu thông tin đăng ký nhãn hiệu và tên thương mại còn nhiều hạn chế 2.6.3 Bất cập, hạn chế trong quy định về xác định hành vi xâm phạm việc bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại 2.6.4 Bất cập hạn chế trong quy định về các biện pháp bảo vệ nhãn hiệu và tên thương mại Thứ nhất, quy định về Hội đồng định giá xác định giá trị tang vật vi phạm hành chính còn chưa phù hợp. 20. 19 Thứ hai, đối với biện pháp dân sự thì thủ tục tố tụng kéo dài và vướng mắc trong xác định thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây ra đang là thách thức đối với việc bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại. 21. 20 Chƣơng 3. THỰC TIỄN BẢO HỘ VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO HỘ NHÃN HIỆU VÀ TÊN THƢƠNG MẠI 3.1 Thực tiễn bảo hộ nhãn hiệu và tên thƣơng mại 3.1.1 Tình hình xác lập quyền bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại 3.1.1.1 Tình hình xác lập bảo hộ nhãn hiệu  Đăng ký nhãn hiệu tại thị trƣờng trong nƣớc: Việc đăng ký bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu đã được các doanh nghiệp chú trọng và cũng đã nhận được sự quan tâm rõ rệt của xã hội. Nhận thức và hành động thực tiễn của các chủ thể nắm giữ quyền sở hữu nhãn hiệu đã mang lại một số kết quả đáng phấn khởi. Điều đó được thể hiện rất rõ ở thực tế ngày càng nhiều các đơn xin đăng ký nhãn hiệu của doanh nghiệp gửi tới Cục SHCN. Một vấn đề cũng được quan tâm trong hoạt động xác lập quyền sở hữu nhãn hiệu đó là tình trạng tranh chấp trong việc xác lập quyền. Nguyên nhân của hiện tượng này là doanh nghiệp không khảo sát để biết đã có một doanh nghiệp khác nộp đơn yêu cầu bảo hộ (hoặc đang được bảo hộ) nhãn hiệu. Bởi vì, nếu có hai chủ thể trở lên cùng nộp đơn yêu cầu bảo hộ một đối tượng SHCN thì Cục SHTT chỉ cấp văn bằng bảo hộ cho chủ thể nộp đơn trước.  Đăng ký nhãn hiệu tại thị trƣờng nƣớc ngoài: Có thể thấy rằng việc đăng ký nhãn hiệu trong nước đã tăng đáng kể và thực sự đột phá. Sự thay đổi này một phần là do các doanh nghiệp đã ý thức được tầm quan trọng cũng như giá trị của nhãn hiệu nhưng phần lớn là do tác động từ một số vụ doanh nghiệp nước ta bị mất nhãn hiệu ở nước ngoài. Như chúng ta đã biết bảo hộ nhãn hiệu chỉ có tính chất lãnh thổ nên các doanh nghiệp muốn tham gia xuất khẩu, vươn ra thị trường lớn và mới trên thế giới thì nhãn hiệu phải được đăng ký ở cơ quan Nhà nước để có thể xác lập quyền chủ sở hữu. 22. 21 3.1.1.2 Tình hình bảo hộ tên thương mại Quyền sở hữu công nghiệp được tự động xác lập khi có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật mà không cần phải đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, trên thực tế việc xác lập quyền đối với tên thương mại của các doanh nghiệp hiện nay gặp rất nhiều khó khăn. Điều này xuất phát từ việc nhầm lẫn giữa tên thương mại và thương hiệu, trùng nhau giữa tên thương mại và nhãn hiệu, thiếu căn cứ pháp lý để tách bạch rõ ràng giữa tên doanh nghiệp và tên thương mại. 3.1.2 Tình hình xử lý vi phạm về bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại Năm 2012, Thanh tra Khoa học và Công nghệ đã tiến hành thanh tra 69 cơ sở, đã phát hiện và xử phạt 36 trường hợp có hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp với số tiền 859 triệu đồng. Thanh tra Khoa học và Công nghệ đã buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên 25.703 sản phẩm, buộc tiêu hủy và tịch thu tiêu hủy 7.462 sản phẩm chứa đựng các dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật. Riêng Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ tiến hành 38 cuộc thanh tra trong lĩnh vực này, đã phát hiện và xử lý 20 trường hợp vi phạm với tổng số tiền phạt lên tới 831 triệu đồng và đã thực thu cho ngân sách. Thanh tra Bộ đã phối hợp với Cục Quản lý thị trường xử lý 01 trường hợp và với lực lượng cảnh sát điều tra xử lý 36 trường hợp. Riêng cơ quan quản lý thị trường các địa phương và trung ương đã tiến hành xử lý 9556 vụ việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có 61 vụ xâm phạm quyền tác giả/quyền liên quan, 8999 vụ giả mạo nhãn hiệu, 67 vụ xâm phạm quyền nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, kiểu dáng công nghiệp, 422 vụ sử dụng tem, nhãn, bao bì hàng hóa giả mạo và 07 vụ vi phạm giống cây trồng. Tổng số tiền xử phạt 5,8 tỷ đồng, giá trị hàng hóa vi phạm bị phát hiện và xử lý là 3,8 tỷ đồng. Cơ quan Hải quan cũng đã tiếp nhận và xử lý gần 100 yêu cầu của các chủ thể quyền sở hữu trí tuệ đề nghị kiểm tra, giám sát tại biên giới. Tính đến thời điểm năm 2012 ngành hải quan có tất cả 106 đơn yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới với khoảng gần 300 nhãn hiệu hàng hóa các loại. Cơ quan Hải quan đã xử lý 101 vụ, xử phạt với số tiền 23. 22 khoảng 300 triệu đồng, đồng thời đã tịch thu xử lý hàng chục ngàn sản phẩm vi phạm các loại (như: rượu, thuốc lá, mỹ phẩm, quần áo, điện thoại di động… xâm phạm các nhãn hiệu đang được bảo hộ tại Việt Nam). Theo báo cáo của Cục Cảnh sát kinh tế (Bộ Công an), riêng năm 2012, lực lượng cảnh sát kinh tế của 44 tỉnh/thành phố đã phát hiện 276 vụ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, sản xuất buôn bán hàng giả, trong đó đã khởi tố 66 vụ, 74 bị can (có 26 vụ xâm phạm nhãn hiệu), phạt tiền hơn 2,4 tỷ đồng. So với năm 2011, số vụ phát hiện đã tăng 107 vụ, số vụ khởi tố tăng 48 vụ (năm 2011, lực lượng cảnh sát kinh tế đã phát hiện 169 vụ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, sản xuất, buôn bán hàng giả, 214 đối tượng, trong đó đã khởi tố 18 vụ, 30 bị can). Năm 2015, Cục sở hữu trí tuệ đã nhận được 1.328 đơn khiếu nại các loại liên quan đến các quyết định từ chối cấp văn bằng bảo hộ, trong đó đối với nhãn hiệu là 1.261, đối với kiểu dáng công nghiệp là 19, đối với sáng chế là 43 và đối với giải pháp hữu ích là 5. Trong đó có 624 đơn khiếu nại là hợp lệ. Bên cạnh đó, Cục sở hữu trí tuệ cũng nhận được 331 đơn đề nghị chấm dứt hiệu lực/hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp đề nghị chấm dứt/hủy bỏ hiệu lực do không đáp ứng tiêu chuẩn bảo hộ. 3.1.3 Thực trạng xử lý tranh chấp, xung đột trong việc bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại Nhãn hiệu và tên thương mại là các đối tượng được bảo hộ quyền SHCN theo Luật SHTT. Cả hai đối tượng này đều có chức năng cơ bản là dùng để phân biệt: với nhãn hiệu là nhằm phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau trong khi đó chức năng cơ bản của tên thương mại là nhằm phân biệt chủ thể kinh doanh. Vì nhãn hiệu và tên thương mại được xác lập quyền bảo hộ bằng các thủ tục và hình thức khác nhau dẫn đến có nhiều sự chồng chéo, xung đột quyền đối với các chủ thể quyền sở hữu nhãn hiệu với chủ thể quyền sở hữu tên thương mại trong thực tế. Trích bản án Bản án số 56/2013/HC-PT ngày 09 tháng 4 năm 2013 của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Hà Nội xét xử vụ kiện Công ty Xuân Mai khởi kiện 24. 23 Quyết định hủy bỏ hiệu lực giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa 82099 và bình luận về vụ án này với các tiêu chí: Việc áp dụng pháp luật của Tòa án, của Cục SHTT và những bất cập trong quy định hiện hành. 3.2 Phƣơng hƣớng và các nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả hoạt động bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và tên thƣơng mại 3.2.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả hoạt động bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và tên thương mại Nhu cầu hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại với hai phương hướng: Phương hướng tiếp tục hoàn thiện pháp luật và phương hướng nâng cao hiệu quả hoạt động bảo hộ QSHCN đối với nhãn hiệu và tên thương mại. 3.2.2 Các nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả hoạt động bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và tên thương mại 3.2.2.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và tên thương mại Thứ nhất, hoàn thiện quy định pháp luật về điều kiện bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại. Thứ hai, về quy định xác lập QSHCN đối với nhãn hiệu và tên thương mại cần gải quyết được những bất cập, hạn chế còn tồn tại. Thứ ba, về xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và tên thương mại Thứ tư, các quy định biện pháp xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu và tên thương mại cần phù hợp với điều kiện thực tế và đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân liên quan. 3.2.2.2 Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả bảo hộ sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và tên thương mại Thứ nhất, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục. Thứ hai, tăng cường năng lực của các cơ quan thực thi 25. 24 Thứ ba, các doanh nghiệp, chủ sở hữu nhãn hiệu, bên cạnh việc đăng ký bảo hộ và trông chờ sự bảo hộ của luật pháp, để hạn chế ở mức thấp nhất tài sản trí tuệ bị xâm phạm, nên có một hệ thống nhân sự và kỹ thuật chuyên bảo vệ quyền SHTT. Thứ tư, nhanh chóng xây dựng và hiện đại hoá mạng thông tin về sở hữu công nghiệp trên cả nước Thứ năm, mở rộng hợp tác quốc tế, tham gia xây dựng lực lượng cảnh sát chuyên trách chống tội phạm đặt trụ sở tại một số quốc gia trong khu vực nhằm phát hiện kịp thời những hành vi vi phạm, nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về xâm phạm nhãn hiệu. 26. 25 KẾT LUẬN Nhãn hiệu và tên thương mại không chỉ đơn thuần là dấu hiệu phân biệt hàng hóa, chủ thể kinh doanh mà quan trọng hơn nó là một tài sản của doanh nghiệp. Nhãn hiệu và tên thương mại đóng vai trò quyết định trong việc xúc tiến bán hàng. Để xây dựng và khuyếch trương thành công nhãn hiệu hay tên thương mại đòi hỏi doanh nghiệp phải hết sức cố gắng đầu tư tiền của, chất xám và tâm huyết. Xây dựng đã khó, bảo vệ nó lại càng khó hơn. Một nhãn hiệu càng nổi tiếng, một tên thương mại được biết biết rộng rãi càng dễ bị xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. Nạn làm hàng giả, cố tình sử dụng những thủ đoạn tinh vi tạo khả năng nhầm lẫn cho người tiêu dùng…đang xảy ra tràn lan. Vì vậy rất cần thiết phải bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và tên thương mại một cách chặt chẽ và hiệu quả. Để làm được điều đó không chỉ doanh nghiệp, các cơ quan có thẩm quyền mà đòi hỏi sự chung tay của toàn xã hôi. Đứng trước xu thế hội nhập, Việt Nam cần hoàn thiện hơn nữa pháp luật về SHTT nói chung và pháp luật liên quan đến nhãn hiệu và tên thương mại nói riêng tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động bảo hộ quyền đạt hiệu quả tốt nhất. Bên cạnh đó nâng cao hiểu biết của doanh nghiệp và nhận thức của xã hội về hoạt động bảo hộ quyền là điều rất cần thiết. Mặc dù đang gặp nhiều khó khăn trong hoạt động bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và tên thương mại, nhưng nếu doanh nghiệp Việt Nam đi đúng hướng, có sự quan tâm một cách sâu sắc đến việc bảo hộ quyền của mình, cùng với sự hỗ trợ của cơ quan Nhà nước thì chúng ta có thể hi vọng đến một môi trường kinh doanh lành mạnh và không có xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu và tên thương mại. 27. 26 TÀI LIỆU THAM KHẢO I. VĂN BẢN PHÁP LUẬT: 1. Quốc hội, 1995, Bộ luật dân sự năm 1995. 2. Quốc hội, 2005, Bộ luật dân sự năm 2005 3. Quốc hội, 2005, Luật sở hữu trí tuệ năm 2005. 4. Quốc hội, 2009, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ năm 2009. 5. Quốc hội, 2004, Luật Cạnh tranh 2004. 6. Quốc hội, 2009, Bộ luật hình sự 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009. 7. Quốc hội, 2015, Bộ luật hình sự 2015. 8. Quốc hội, 2005, Luật doanh nghiệp 2005. 9. Quốc hội, 2014, Luật doanh nghiệp 2014. 10.Quốc hội, 2005, Luật thương mại 2005. 11.Chính phủ, 2010, Nghị định 105/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về bảo vệ quyền SHTT và quản lý nhà nước về SHTT, được sửa đổi bổ sung theo Nghị định số 119/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010. 12.Chính phủ, 2010, Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 04 năm 2010 về đăng ký tên doanh nghiệp. 13.Chính phủ, 2010, Nghị định số 103/2006/NĐ-CP quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều luật SHTT về SHCN được sửa đổi bổ sung theo Nghị định 122/2010/NĐ-CP. 14.Chính phủ, 2000, Nghị định số 54/2000/NĐ-CP ngày 3 tháng 10 năm 2010, quy định về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp. 28. 27 15.Chính phủ, 2010, Nghị định số 119/2010/NĐ-CP ngày 30 tháng 10 năm 2010, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 105/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ. 16.Chính phủ, 2010, Nghị định số 122/2010/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2010, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 103/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp. 17.Chính phủ, 2013, Nghị định 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp. 18.Bộ Khoa học và Công nghệ, 2007, Thông tư 01/2007/TT-BKHCN ngày 14 tháng 02 năm 2007 hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp. 19.Tòa án nhân dân Tối cao – Viện kiểm sát nhân dân Tối cao – Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch – Bộ Khoa học và Công nghệ – Bộ tư pháp, 2008, Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC- BVHTTDL-BKHCN-BTP ngày 03 tháng 4 năm 2008 Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án nhân dân. 20.Chính phủ, 2006, Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2006 Về đăng ký kinh doanh. 21.Chính phủ, 2001, Nghị định 06/2001/NĐ-CP ngày 01/02/2001 quy định Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 63/CP ngày 24 tháng 10 năm 1996 của Chính phủ quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp. 22.Chính phủ, 1996, Nghị định số 63/CP ngày 24 tháng 10 năm 1996 của Chính phủ quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp. II. VĂN BẢN PHÁP LUẬT NƢỚC NGOÀI: 29. 28 1. Madrid Agreement Concerning the International Registration of Marks (Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa). 2. Paris Convention for the Protection of Industrial Property (Công ước Paris Bảo hộ sở hữu công nghiệp). 3. Agreement on trade – related aspects of IPR (TRIPS) (Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ). 4. Trade Marks Directive, Council Directive No. 89/104/EEC, 1988 (Văn bản hướng dẫn chung của Cộng đồng châu Âu về hài hòa pháp luật về nhãn hiệu hàng hóa của các quốc gia). 5. Council Regulation of 1993, 40/94 / EC, the Community Trademark (Quy định của Hội đồng năm 1993, 40/94/EC, về Nhãn hiệu hàng hóa Cộng đồng). 6. Trans-Pacific Partnership Agreement (Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương – viết tắt Hiệp định TPP) III. SÁCH CHUYÊN KHẢO: 1. Đại học Luật Hà Nội, 2009, Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ. 2. Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, 2015, Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ, Nxb Hồng Đức. 3. TS Lê Trung Đạo (2009) – Giáo trình Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. 4. TS Lê Đình Nghị – TS Vũ Thị Hải Yến (2012) – Giáo trình luật sở hữu trí tuệ, Nxb Giáo dục Việt Nam. 5. PGS.TS Đoàn Đức Lương (chủ biên), Khoa Luật – Đại học Huế (2013) – Giáo trình Pháp luật Sở hữu trí tuệ, Nxb Chính trị quốc gia. 6. PGS.TS Phùng Trung Tập (2013) – Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ, Nxb Công an nhân dân. 7. TS Lê Nết (chủ biên) – Trường Đại học Luật Tp HCM (2006) – Tài liệu bài giảng Quyền sở hữu trí tuệ. 8. Đào Minh Đức, 2005, Tham khảo “Phân tích giá trị thương hiệu và nhãn hiệu”. 9. Đào Minh Đức,2005, Tham khảo “Giáo trình phân tích giá trị thương hiệu và nhãn hiệu”. 10.Cục sở hữu trí tuệ, 2015, Báo cáo thường niên hoạt động sở hữu trí tuệ 2015, Nxb Khoa học và Kỹ thuật. 30. 29 11.Giáo sư Michael Blakeney Viện nghiên cứu Sở hữu trí tuệ Queen Mary Đại học London, Tài liệu giảng dạy về sở hữu trí tuệ, Chương trình hợp tác EC- ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) dịch và cung cấp. 12.David A.Weinstein John Wiley& Sons, 1990, How to protect your Business, Professional and Brand name, page.10 IV. LUẬN ÁN, LUẬN VĂN 1. Nguyễn Văn Luận (2005) – Luận án Tiến sỹ: Bảo hộ quyền Sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam và quốc tế – Đại học Luật Hà Nội 2. Bùi Thị Huyền, 2010, Luận văn thạc sỹ “Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thưuơng mại theo quy định của pháp luật Việt Nam”, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội 3. Nguyễn Thị Lan Anh (2012) – Luận văn Thạc sỹ: Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp về nhãn hiệu theo pháp luật nước ngoài – Đại học Luật Hà Nội 4. Nguyễn Thị Thu, 2012, Luận văn Thạc sỹ: Xung đột giữa nhãn hiệu và tên thương mại trong bảo hộ quyền sở hữ

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Tiểu luận

Related Articles

Trả lời

Back to top button