Tiểu Luận Môn Tư Duy Biện Luận Ứng Dụng, Tư Duy Biện Luận Ứng Dụng

“Khi tất cả đều nghĩ giống nhau, chẳng ai nghĩ nhiều cả.” (Where all think alike, no one thinks very much) _ Walter Lippmann

4.1. TƯ DUY PHẢN BIỆN (CRITICAL THINGKING)

4.1.1.Khái quát

Tư duy phản biện (Critical thinking) là khả năng suy nghĩ rõ ràng và có lập luận đúng đắn về niềm tin bạn tin vào hay những gì bạn đang làm. Nó bao gồm khả năng vận dụng suy nghĩ độc lập (independent thinking) và suy nghĩ phản chiếu (reflective thinking). Người có tư duy phản biện thường có thể:

Hiểu sự gắn kết logic giữa các quan điểm.Nhận dạng, phát triển và đánh giá các lập luận.Tìm ra những sự không nhất quán và lỗi sai phổ biến trong cách lập luận.Giải quyết các vấn đề một cách hệ thống.Nhận dạng sự liên quan và tầm quan trọng của các ý tưởng.Xem xét cách lập luận và sự đúng đắn trong quan điểm, niềm tin của người khác.

Đang xem: Tiểu luận môn tư duy biện luận ứng dụng

Không nên nhầm lẫn tư duy phản biện với việc thích tranh cãi hay chỉ trích người khác. Mặc dù các kỹ năng tư duy phản biện có thể được sử dụng để vạch trần những thiếu sót và cách lập luận sai lầm, nhưng tư duy phản biện cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phối hợp để đưa ra các cách lập luận đúng đắn và có tính xây dựng. Tư duy phản biện giúp chúng ta thu nạp kiến thức, tăng mức độ thấu hiểu lý thuyết đã biết, củng cố các lập luận, nâng cao hiệu quả xử lý công việc và giải quyết vấn đề.

Một vài người tin rằng tư duy phản biện cản trở khả năng sáng tạo bởi vì trong khi tư duy phản biện đòi hỏi phải tuân thủ những quy tắc logic và lập luận nhất định thì khả năng sáng tạo có lẽ cần đến nhiều hơn việc “phá luật” (breaking the rules). Đây là quan điểm sai lầm. Tư duy phản biện khá hòa hợp với cách suy nghĩ “ngoài chiếc hộp” (thinking out_of_the_box), thử thách các nhận thức chung và theo đuổi những hướng đi ít người biết. Tư duy phản biện là một phần cơ bản của sáng tạo bởi vì chúng ta cần tư duy phản biện để đánh giá và cải thiện các ý tưởng sáng tạo.

*

Hình 4.1: Tư duy phản biện

Tư duy phản biện hay tư duy phân tích là một quá trình tư duy biện chứng gồm phân tích và đánh giá một thông tin đã có theo các cách nhìn khác cho vấn đề đã đặt ra nhằm làm sáng tỏ và khẳng định lại tính chính xác của vấn đề. Lập luận phản biện phải rõ ràng, logic, đầy đủ bằng chứng, tỉ mỉ và công tâm.

4.1.2 Tầm quan trọng của tư duy phản biện

Tư duy phản biện là kỹ năng tư duy cần thiết cho mọi lĩnh vực. Khả năng suy nghĩ rõ ràng và có lý trí rất quan trọng bất kể chúng ta đang làm gì. Nếu bạn làm việc trong lĩnh vực giáo dục, tài chính, quản trị hay pháp lý, thì tư duy phản biện hiển nhiên cực kỳ quan trọng. Nhưng kỹ năng này không chỉ giới trong một lĩnh vực cụ thể nào cả. Khả năng tư duy tốt và giải quyết vấn đề một cách có hệ thống là “tài sản” quý giá trong mọi lĩnh vực, nghề nghiệp.

Tư duy phản biện rất quan trọng trong nền kinh tế tri thức khi nó được thúc đẩy bởi thông tin và công nghệ. Nền kinh tế mới đặt ra những nhu cầu ngày càng tăng vào các kỹ năng vận dụng trí óc linh hoạt và khả năng phân tích thông tin, tích hợp các nguồn kiến thức đa dạng vào giải quyết vấn đề. Tư duy phản biện tốt thúc đẩy những kỹ năng tư duy này và rất quan trọng trong môi trường làm việc không ngừng thay đổi.

Tư duy phản biện cải thiện các kỹ năng thuyết trình và ngôn ngữ. Suy nghĩ rõ ràng và có hệ thống có thể cải thiện cách mà chúng ta diễn đạt các ý tưởng. Đối với phân tích cấu trúc logic của văn bản, tư duy phản biện cũng tăng khả năng hiểu rõ những gì đã được viết.

Tư duy phản biện thúc đẩy sáng tạo. Tìm ra giải pháp sáng tạo cho một vấn đề không chỉ cần đến các ý tưởng mới. Bản thân các ý tưởng mới này cũng bắt buộc phải hữu ích và liên quan đến vấn đề đang cần được giải quyết. Tư duy phản biện đóng vai trò cốt lõi trong việc đánh giá các ý tưởng mới, lựa chọn những ý tưởng tốt nhất và điều chỉnh chúng nếu cần thiết.

Tư duy phản biện rất quan trọng đối với quá trình phản chiếu bản thân (self_reflection). Để kiểm soát cuộc sống và làm nó trở nên có ý nghĩa, chúng ta cần nhận dạng rõ giá trị bản thân và tỉnh táo khi ra quyết định. Tư duy phản biện chính là thứ sẽ giúp bạn thực hiện những điều này một cách hợp lý.

Tư duy phản biện tốt là nền tảng của khoa học và dân chủ. Khoa học đòi hỏi việc sử dụng lập luận trong thử nghiệm và xác nhận các lý thuyết. Việc vận hành hiệu quả hơn của nền dân chủ tự do cũng đòi hỏi các công dân có cách suy nghĩ lý trí về các vấn đề xã hội để lan tỏa những giá trị đúng đắn và vượt qua những khuynh hướng và định kiến sai lầm.

4.1.3. Đặc điểm của tư duy phản biện là gì?

Người có tư duy phản biện thường có khả năng:

– Hiểu sự gắn kết logic giữa các quan điểm.

– Nhận dạng, phát triển và đánh giá các lập luận.

– Tìm ra những sự không nhất quán và lỗi sai phổ biến trong cách lập luận.

– Giải quyết vấn đề một cách có hệ thống.

– Nhận dạng sự liên quan và tầm quan trọng của các ý tưởng.

– Xem xét cách lập luận và sự đúng đắn trong quan điểm, niềm tin của người khác.

– Không nhầm lẫn tư duy phản biện với việc thích tranh cãi hay chỉ trích người khác. Mặc dù các kỹ năng tư duy phản biện có thể được sử dụng để vạch trần những thiếu sót và sai lầm trong lập luận, nhưng kỹ năng này đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra những lập luận đúng đắn và mang tính xây dựng. Tư duy phản biện giúp chúng ta thu nạp kiến thức, tăng mức độ thấu hiểu lý thuyết đã biết, củng cố cách lập luận, nâng cao hiệu quả xử lý công việc và giải quyết vấn đề.

4.1.4 . Rèn luyện kỹ năng tư duy phản biện

Tích cực trau dồi kiến thức cho bản thân

Người có tư duy phản biện thường có khả năng ăn nói tốt, có thể tranh luận với người khác một cách dễ dàng.

*

Hình 4. 2. Đọc sách để rèn luyện tư duy phản biện

Tuy nhiên, để lập luận tốt chúng ta cần không ngừng trau dồi kiến thức tổng quát, nắm vững thông tin đa dạng về tất cả các lĩnh vực có liên quan đến ngành nghề mình đang làm việc và cả những ngành nghề không thuộc công việc của mình. Tập thói quen quan sát và học hỏi nhiều kiến thức để khi tranh luận thì mình luôn là người nắm rõ các thông tin chính xác để làm người khác thuyết phục.

Có một tầm nhìn khách quan

– Muốn có tư duy phản biện tốt, các bạn cần có cái nhìn khách quan về một vấn đề nào đó, không nghĩ hay giải quyết vấn đề theo cảm tính hay đặt cái tôi quá nhiều để nhìn nhận một vấn đề. Hãy bỏ cái nhìn chủ quan và thay thế bằng suy nghĩ khách quan, có như vậy thì bạn mới có thể lập luận vấn đề một cách chính xác.

Tập thói quen đặt câu hỏi

– Khi giải quyết một vấn đề thì cần có thêm những câu hỏi tự đặt ra để nó trở nên hoàn thiện hơn. Nhìn nhận vấn đề dưới nhiều góc độ để phòng tránh mọi trường hợp không hay có thể xảy ra ngoài suy nghĩ của mình. Đây cũng là cách để giải quyết mọi vấn đề một cách chỉn chu, tránh sai sót.

*

Hình 4. 3. Tạo lập thói quen đặt câu hỏi để rèn luyện khả năng tư duy

Sử dụng sơ đồ hóa ý kiến

– Khi nhận diện một vấn đề nào đó, đầu tiên là chúng ta nắm rõ thông tin chính xác về vấn đề gì? Về ai? Về điều gì? Liên quan đến lĩnh vực gì? Sau đó, dựa trên những cơ sở khoa học và logic, hãy lên những câu hỏi để làm rõ vấn đề. Tại sao A mà không phải B, A đúng hay B đúng, nếu là A thì kết quả thế nào, B thì kết quả thế nào, cái nào mới là cái đúng và chính xác. Từ đó rút ra kết luận và nguyên nhân cho vấn đề trên.

*

Hình 4. 4. Sơ đồ hóa ý kiến

Ưu điểm:

So với các cách thức ghi chép truyền thống thì phương pháp giản đồ ý có những điểm vượt trội như sau:Ý chính sẽ ở trung tâm và được xác định rõ ràng.Quan hệ hỗ tương giữa mỗi ý được chỉ ra tường tận. Ý càng quan trọng thì sẽ nằm vị trí càng gần với ý chính.Liên hệ giữa các khái niệm then chốt sẽ được tiếp nhận lập tức bằng thị giác.Ôn tập và ghi nhớ sẽ hiệu quả và nhanh hơn.Thêm thông tin (ý) dễ dàng hơn bằng cách vẽ chèn thêm vào giản đồ.Mỗi giản đồ sẽ phân biệt nhau tạo sự dễ dàng cho việc gợi nhớ.Các ý mới có thể được đặt vào đúng vị trí trên hình một cách dễ dàng, bất chấp thứ tự của sự trình bày, tạo điều kiện cho việc thay đổi một cách nhanh chóng và linh hoạt cho việc ghi nhớ

Tóm lại: Tư duy phản biện thật sự rất quan trọng cho tất cả mọi lĩnh vực nghề nghiệp chuyên môn và mọi chuyên ngành khoa học. Quá trình tư duy phản biện liên quan đến việc thu thập và diễn giải thông tin một cách thận trọng và dùng nó để đạt đến một kết luận có thể biện minh được rõ ràng.

Đây là một kỹ năng quan trọng vì nó tạo điều kiện cho người ta phân tích, đánh giá, xây dựng lại những suy nghĩ của mình, làm giảm rủi ro vận dụng, hành động, suy nghĩ với một niềm tin sai lầm. Đối với sinh viên, để học được nội dung kiến thức, thì sự gắn kết trí tuệ là điều vô cùng cốt yếu. Mọi sinh viên đều phải tự mình tư duy bằng cái đầu của chính mình, tự mình kiến tạo nên tri thức cho bản thân thì mới thành công được.

Để rèn luyện tư duy phản biện, cần:

* Xem xét lại những nhận định của bản thân.

_ Chúng ta nhận định về hầu hết tất cả mọi thứ. Đó là cách thức não bộ xử lý từng thông tin cụ thể và giúp ta sinh sống mỗi ngày. Nhận định có thể được coi là nền móng của nền tảng phản biện. Tuy nhiên, điều gì sẽ xảy ra nếu nhận định của bạn sai, hoặc ít nhất không hoàn toàn đúng sự thật? Bạn sẽ cần xây dựng lại nền móng này từ đầu.

Xem xét lại nhận định là như thế nào? Einstein đã từng thắc mắc về một nhận định: liệu các định luật của Newton về chuyển động có thể mô tả chuẩn xác thế giới này hay không?<1>Einstein đã phát triển nền tảng phản biện hoàn toàn mới mẻ để nhìn nhận thế giới, bằng cách mô tả lại suy nghĩ của bản thân về điều đã xảy ra, bắt đầu từ con số không.Chúng ta có thể xem xét lại những nhận định theo cách tương tự. Vì sao chúng ta cảm thấy cần phải ăn sáng ngay cả khi không đói? Vì sao chúng ta thừa nhận rằng mình sẽ thất bại ngay cả khi chưa thử bắt tay vào làm?Liệu chúng ta còn mặc nhiên tin vào những nhận định nào mà chúng có thể bị phá vỡ sau khi được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn?

 * Đừng bao giờ chấp nhận thông tin từ truyền thông cho tới khi bạn trực tiếp kiểm tra thông tin đó. 

– Tương tự như các nhận định, việc tiếp thu thông tin từ chính quyền cũng có thể hữu dụng. Thay vì kiểm tra lại thông tin của người khác, chúng ta thường chia thông tin thành loại có nguồn gốc đáng tin cậy và không đáng tin cậy. Phương pháp này giúp chúng ta không mất thời gian và công sức kiểm tra lại toàn bộ những thông tin mình tiếp cận. Tuy nhiên, chính điều đó cũng ngăn cản ta tìm hiểu đến tận cùng những thông tin mà ta cho là có nguồn gốc đáng tin cậy, ngay cả khi thông tin đó chưa hẳn đã chuẩn xác. Những thông tin được đăng tải trên tạp chí hoặc vô tuyến không đồng nghĩa với việc chúng phản ánh sự thật.

Tạo dựng thói quen sử dụng bản năng để tìm hiểu các thông tin đáng ngờ. Hãy yêu cầu làm rõ vấn đề khi lời giải thích của ai đó chưa khiến bạn hài lòng. Nếu không đặt câu hỏi, bạn có thể đọc thêm hoặc tự mình kiểm tra tính chính xác của thông tin. Sớm thôi, bạn sẽ trở nên nhanh nhạy khi tự đánh giá thông tin nào cần nghiên cứu kỹ lưỡng hơn và thông tin nào là chính xác.

* Xem xét mọi thứ

 Bạn đã đọc về việc cân nhắc các nhận định cũng như kiểm tra thông tin từ cơ quan chính quyền, giờ là lúc bạn biết mình nên xem xét tất cả mọi thứ. Đặt câu hỏi có lẽ là tinh hoa của tư duy phản biện. Nếu không biết phải hỏi gì hoặc không đưa ra câu hỏi từ đầu, bạn sẽ không thể có câu trả lời. Tìm kiếm câu trả lời một cách thông minh chính là tư duy phản biện.

Cơ chế của sét hòn là gì?Cá rơi từ trên trời xuống nước Úc như thế nào?Chúng ta có thể làm điều gì có ý nghĩa để chống lại tình trạng đói nghèo trên toàn cầu?Chúng ta có thể chấm dứt hoạt động sản xuất vũ khí hạt nhân như thế nào?

* Các bước thực hiện

Nhận dạng những ý kiến liên quan với vấn đề đưa ra.

Phân tích:Mỗi ý kiến đưa ra một vài luận điểm ủng hộ và luận cứ phản biệnVới mỗi luận điểm đưa ra nhiều luận cứ khác nhauNhìn sự việc, vấn đề dưới nhiều góc cạnh khác nhau, tìm ưu điểm và khuyết điểm

Những ý kiến giống như những nhận định, xuất phát từ những tiên đề (tiên đề A → lập luận B → lập luận C → nhận định D). Việc phân tích là việc bắt nguồn từ D để đi tìm A, B và C.

Đánh giá:Khảo sát mâu thuẫn giữa những ý kiếnĐong sức nặng (sức thuyết phục) của những ý kiếnĐưa ra quan điểm của bản thân (ý kiến nào là đúng)Trình bày kết quả của quá trình tư duy logicPhát triển sức nặng của ý kiến (chỉ ra những đặc điểm nổi trội của ý kiến đó và tìm những dẫn chứng thực tế giúp củng cố ý kiến đó)Nêu ra các điểm không chuẩn xác trong lập luận của người/nhóm người mang ý kiến đối lập

Các phương thức hỗ trợ

 – Kỹ năng sơ đồ hóa ý kiến

Sơ đồ tư duy (mind_map) là một dụng cụ hữu hiệu trong việc tổ chức và đánh giá thông tin bởi nó giúp định vị luận điểm/luận cứ một cách rõ ràng.

Khi thu nhận được một thông tin, điều cần trước tiên là hiểu rõ nội dung thông tin đó, về ai, về điều gì, liên quan đến những vấn đề gì, lĩnh vực nào. Tiếp theo, dựa trên những cơ sở khoa học và logic, đặt ra các câu hỏi như: Tại sao lại khẳng định là A mà không phải là B, trong khi B cũng có các khả năng như A. Nếu là B thì khi đó sẽ có kết quả là B1, kết quả này có giống kết quả A1 của khả năng A không. Nếu có giống thì sẽ rút ra kết luận như thế nào, và nếu không giống thì lý do là ở đâu…

Kỹ năng tránh tính thiên vị

Tính thiên vị là một đặc tính có trong tiềm thức của con người mà không phải ai cũng dễ dàng nhận ra.

Thay vì hỏi: “Điều này mâu thuẫn với điều mà tôi tin tưởng như thế nào?” hãy hỏi rằng: “Điều này có nghĩa là gì?”Trong những bước đầu tiên của việc thu thập và đánh giá thông tin, đừng đưa ngay ra một kết luận (đặc biệt khi đang đọc tiểu thuyết hoặc xem phim) bởi việc làm này sẽ đưa ra định hướng mang tính cảm nhận (perceptive orientation) thay vì định hướng mang tính phán xét (judgmental orientation), ngăn chặn việc phát triển cảm nhận thành sự phán xét.Ai cũng nên nhận thức rõ về khả năng mắc phải sai lầm của bản thân bằng cáchChấp nhận rằng tất cả mọi người đều có thành kiến nằm trong tiềm thức, và vì thế rất dễ tấn công những phán xét chống lại mình.Từ tốn lắng nghe ý kiến của người khác trước khi đưa ra quan điểm của mình. Nói cách khác là làm đúng quy trình tư duy phản biệnNhận thức rằng trong lập luận của mình chắc chắn có sơ hở và sai lầmCuối cùng, sử dụng những câu hỏi sau có thể giúp tăng thời gian trao đổi thông tin và lượng thông tin.Khi dùng từ _____, ý bạn là_____?Tại sao bạn lại đưa ra được kết luận đó?Tại sao bạn cho rằng mình đúng?Bạn lấy thông tin này ở đâu?Giả định gì khiến bạn đưa ra kết luận đó?Điều gì sẽ xảy ra nếu bạn sai?Tại sao điều này lại quan trọng thế?Điều gì nữa có thể giải thích cho hiện tượng này?Phân tích của bạn có bị ảnh hưởng bởi dư luận, quy trình giáo dục, môi trường sống, cảm tính, định kiến xã hội, tuyên truyền, thành kiến, tính địa phương,… ?.

 

4.2. TƯ DUY SÁNG TẠO

4.2.1. Khái niệm

Như đã trình bày trong chương 1, theo Bộ Lao động Hoa Kỳ, người lao động thế kỷ 21 tại Hoa Kỳ cần có 13 kỹ năng thiết yếu, trong đó kỹ năng tư duy sáng tạo được xếp hàng đầu. Trong cuộc sống nói chung và trong công việc nói riêng, nếu thiếu tư duy sáng tạo thì con người có thể sẽ gặp khó khăn khi giải quyết những vấn đề nan giải, đòi hỏi phải có những giải pháp mang tính đột phá và hoàn toàn mới lạ.

Tư duy sáng tạo là sự khác biệt, ưu thế tuyệt đối của loài người so với các sinh vật khác. Tư duy sáng tạo đóng vai trò vô cùng quan trọng, nếu như không nói là quyết định đối với quá trình tiến hóa và phát triển của xã hội loài người, đặc biệt là trong thế kỷ 21 này khi mà nền kinh tế tri thức (với hàm lượng sáng tạo chiếm ưu thế tuyệt đối) lên ngôi. Chính nhờ có sáng tạo mà qua từng thời đại, con người chế tạo ra vô số thiết bị để “tăng tiến” khả năng của con người. Như máy bay là sự tăng tiến khả năng tiếp cận không trung, điện thoại là sự tăng tiến cho khả năng nói và nghe.

Vậy “Tư duy sáng tạo” là gì? Theo các nhà tâm lý học thì tư duy sáng tạo được xem là dạng hoạt động trí não cao nhất của con người. Năng lực sáng tạo là cốt lõi của tư duy sáng tạo, làm tiền đề bên trong của hoạt động sáng tạo, nó được xác định từ chất lượng đặc biệt của các quá trình tâm lý bao gồm nhiều quá trình gắn kết như: quá trình trí nhớ, tư duy, xúc cảm.

Tư duy sáng tạo là kiểu giải quyết vấn đề dựa trên quá trình động não để tìm ra những phương án khả thi, rồi chọn được phương án tối ưu dựa trên các phương án đã nêu ra. Điều này thoạt đầu nghe có vẻ đơn giản nhưng thực ra là cả một quá trình rất phức tạp đòi hỏi sự nỗ lực cao độ của hoạt động trí óc.

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về tư duy sáng tạo. Theo Torrance (1962): “Tư duy sáng tạo là một quá trình tạo ra ý tưởng hoặc giả thuyết, thử nghiệm ý tưởng này đi đến kết quả… Kết quả này có ít nhiều mới mẻ, có chút ít gì đó trước đây con người chưa bao giờ nhìn thấy, chưa có ý thức về nó”. Nói ngắn gọn thì bản chất sáng tạo là quá trình hoạt động của con người tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần mới về chất.

*

Hình 4. 5. Tư duy sáng tạo _ dạng hoạt động trí não cao nhất

Như vậy tiêu chí sáng tạo ở đây là “tính mới lạ” và “tính có giá trị” (có ích lợi hơn, tiến bộ hơn so với cái cũ).

4.2.2. Tầm quan trọng của kỹ năng tư duy sáng tạo

Những thay đổi nhanh chóng của thời đại ngày nay đặt chúng ta trước yêu cầu rằng các vấn đề phải được giải quyết một cách nhanh chóng, hiệu quả. Và sáng tạo chính là con đường ngắn nhất dẫn đến thành công. Thật khó để nói rằng những kiến thức chúng ta có sẽ giải quyết các vấn đề một cách sáng tạo trong tương lai. Tất cả chúng ta phải tiếp tục học trong suốt cuộc đời, nhưng những kiến thức chúng ta thu nhận được cũng không đảm bảo rằng sẽ giải quyết tốt những vấn đề gặp trong tương lai. Chỉ có khả năng tư duy sáng tạo mạnh mẽ mới cung cấp những giải pháp đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại vài tương lai. Sáng tạo là con đường ngắn nhất dẫn đến thành công.

Tư duy sáng tạo không chỉ cần thiết với những người đang làm việc trong lĩnh vực quảng cáo, marketing hay nghệ thuật, mà khả năng tư duy sáng tạo còn cần thiết cho việc phát triển công việc và thành công dù bạn làm việc trong bất kỳ ngành nghề nào. Chẳng hạn như, với một nhà hóa học nếu có khả năng sáng tạo, anh ta có thể phát minh ra những phương pháp ứng dụng các thiết bị như lò vi sóng vào lĩnh vực tổng hợp hợp chất hữu cơ, hay chiết suất tinh dầu từ thực vật. Một giảng viên sáng tạo sẽ không bao giờ thiếu những phương pháp hay để truyền đạt kiến thức cho sinh viên một cách hiệu quả nhất: như lớp học đảo ngược (flipped classroom), thảo luận nhóm. Một người bán hàng sáng tạo sẽ luôn tràn ngập ý tưởng để tiếp cận khách hàng. Họ có thể biến một khách hàng chỉ có ý định mua chiếc cần câu thành khách hàng mua chiếc cano để đi câu.

Tính sáng tạo và lối suy nghĩ thông minh được đánh giá cao ở bất cứ công việc nào. Thậm chí công việc mang tính kỹ thuật nhất cũng đòi hỏi khả năng suy nghĩ thoát ra khỏi khuôn khổ. Vì vậy, đừng bao giờ đánh giá thấp sức mạnh của việc giải quyết vấn đề theo cách sáng tạo. Bạn có thể đang phải làm một công việc chán ngắt, buồn tẻ, hãy cố gắng khắc phục nó theo cách hiệu quả hơn. Khi một vấn đề khiến người ta phải miễn cưỡng bắt tay vào làm, hãy nghĩ ra một giải pháp sáng tạo hơn. Nếu không được, ít ra bạn đã từng thử nó.

Ở tầm vĩ mô, theo các nghiên cứu về sự phát triển kinh tế trong giai đoạn trước thế kỷ 21, các cá nhân, công ty hoặc quốc gia đã trở nên giàu, thường có một hoặc một số trong bốn nguyên nhân sau:

1) Có tài nguyên thiên nhiên nhiều hơn;

2) Sinh ra đã giàu (như do thừa kế tài sản), có nguồn vốn tính theo đầu người cao;

3) Có công nghệ tiên tiến hơn các đối tượng khác xung quanh;

4) Có nguồn nhân lực tốt hơn những đối tượng xung quanh.

Khi bước vào thế kỷ 21, một câu hỏi đặt ra là: Nguyên nhân nào làm cho một cá nhân, công ty hoặc quốc gia thành công về kinh tế? Câu trả lời cho vấn đề này là: Ba nguyên nhân từ 1 đến 3 càng ngày càng giảm bớt vai trò của chúng, và nguyên nhân 4: Nguồn nhân lực tốt (mà cốt lõi là nguồn nhân lực có tính sáng tạo cao) sẽ là động lực dẫn đến thành công. Sự sáng tạo của nguồn nhân lực thật sự là nguyên nhân chính cho sự thành công nếu không nói là duy nhất ở thế kỷ 21.

Có thể thấy rõ hơn điều này khi nhìn vào sự phát triển một số quốc gia như: Cuối thế kỷ 19, Argentina là một trong những nước giàu nhất thế giới (đến thập niên 1920, họ vẫn còn giàu ngang với nước giàu có ở châu Âu). Ngày nay, Argentina chỉ được xếp vào danh sách các nước đang phát triển, thậm chí suýt bị vỡ nợ. New Zealand đã có lúc đứng thứ ba thế giới về thu nhập tính theo đầu người. Hiện nay, New Zealand được xếp vào cuối danh sách của các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Với Việt Nam, dù tài nguyên khá phong phú nhưng vẫn ở top dưới của thế giới.

Ở thế kỷ 21, lực lượng lao động tốt cần đạt được những yêu cầu cao hơn: ngoài việc được đào tạo bài bản để có các kỹ năng nghề nghiệp tiên tiến, lực lượng lao động còn phải có thêm các kỹ năng mới, đặc biệt trong đó là các kỹ năng sáng tạo và đổi mới.

Các nghiên cứu gần đây cho thấy một số nguyên nhân dẫn đến việc “Thế kỷ 21 là thời đại của tư duy sáng tạo (tương ứng với nền kinh tế tri thức)”, chúng bao gồm:

1) Thế kỷ 21 là thời đại cạnh tranh tri thức. Trong các lĩnh vực cần tri thức, chính sáng tạo làm tăng giá trị thặng dư của tri thức, làm cho tri thức đem lại nhiều ích lợi hơn.

2) Các quốc gia, tổ chức, công ty càng ngày càng thấy sự cần thiết phải nhanh chóng tái tạo, tái sáng chế, đổi mới chính mình để phát triển. Sự cạnh tranh toàn cầu đòi hỏi mỗi công ty, tổ chức, quốc gia phải huy động các ý tưởng, tài năng và các tổ chức sáng tạo. Công ty, tổ chức, quốc gia nào không coi trọng đúng mức điều này sẽ mất đi lợi thế về chiến lược.

3) Lĩnh vực dịch vụ, sản xuất sản phẩm hàm lượng chất xám cao phát triển, đòi hỏi nhiều người làm việc công việc ngày càng sáng tạo và những người tài thường thay đổi/có cơ hội thay đổi chỗ làm việc hơn bao giờ hết.

4) Có sự thay đổi quan hệ trên thị trường: Khách hàng bây giờ có nhu cầu, yêu cầu cao hơn; so sánh, đối chiếu nhiều sản phẩm có tính năng tương tự, chứ không còn là khách hàng trung thành như trước đây. Chỉ có sáng tạo mới tạo ra được sự khác biệt.

5) Vì quản lý đang thay đổi vai trò từ kiểm soát sang giải phóng sức sáng tạo. Đây chính là tư duy quản lý mới.

Tư duy sáng tạo sẽ mở rộng quá trình sáng tạo, đề xuất nhiều phương án độc đáo, sáng tạo, và triển khai các hệ thống cần thiết cho việc thực hiện giải pháp. Tư duy sáng tạo sẽ giúp cho mọi người có suy nghĩ thông minh hơn; giúp cho mọi người làm việc hiệu quả hơn: Đạt kết quả cao nhất trong thời gian ngắn nhất.

4.2.3. Tư duy sáng tạo – Thang tư duy Bloom

Thang cấp độ tư duy Bloom (hay thang tư duy Bloom, hoặc khung phân loại nhận thức Bloom) được xem là công cụ nền tảng để xây dựng mục tiêu và hệ thống hóa các cấp độ tư duy. Thang cấp độ tư duy do Benjamin S. Bloom thiết lập (1956). Sau đó được điều chỉnh, và gọi là thang Bloom chỉnh sửa (Bloom’s Revised Taxonomy) bao gồm:

1) Nhớ (Remembering);

2) Hiểu (Understanding);

3) Vận dụng (Applying);

4) Phân tích (Analyzing);

5) Đánh giá (Evaluating);

6) Sáng tạo (Creating).

Các cấp độ tư duy này được khái quát như sau:

1) Nhớ: Có thể nhớ lại các điều đặc biệt hoặc tổng quát, trọn vẹn hoặc một phần các quá trình, các cấu trúc. Ở cấp độ này cần nhớ lại đúng điều được hỏi đến, ví dụ lặp lại đúng một định luật mà chưa cần phải giải thích hay sử dụng định luật ấy. Các từ khóa thường sử dụng khi đánh giá cấp độ nhận thức này bao gồm: thuyết trình, trình bày, mô tả, liệt kê.

2) Hiểu: Ở cấp độ nhận thức này cần nắm được ý nghĩa của thông tin, thể hiện qua khả năng diễn giải, suy diễn, liên hệ. Ví dụ như khi giải thích một định luật; viết tóm tắt một chương mục; thuyết trình một quan điểm. Các từ khóa thường sử dụng khi đánh giá cấp độ nhận thức này bao gồm: giải thích, phân biệt, khái quát hóa, cho ví dụ…

*

Hình 4. 6. Thang tư duy Bloom

3) Ứng dụng: Có thể áp dụng, vận dụng thông tin đã biết vào một tình huống, một điều kiện mới. Ví dụ: Vận dụng một định luật để giải thích một hiện tượng; áp dụng các công thức, các định lý để giải một bài toán; thực hiện một thí nghiệm dựa trên một quy trình. Các từ khóa thường sử dụng khi đánh giá cấp độ nhận thức này bao gồm: vận dụng, áp dụng, tính toán, chứng minh, giải thích, xây dựng…

4) Phân tích: Có thể chia các nội dung, các thông tin thành những phần nhỏ để có thể chỉ ra các yếu tố, các mối liên hệ, các nguyên tắc cấu trúc của chúng. Ví dụ: Lý giải nguyên nhân thất bại của một loạt thực nghiệm; hệ thống hóa ưu và nhược điểm của quá trình hoạt động; xây dựng biểu đồ phát triển của một doanh nghiệp. Các từ khóa thường sử dụng khi đánh giá cấp độ nhận thức này bao gồm: phân tích, lý giải, so sánh, lập biểu đồ, phân biệt, hệ thống hóa…

5) Đánh giá: Có thể đưa ra nhận định, phán quyết đối với một vấn đề dựa trên các chuẩn mực, các tiêu chí đã có. Ví dụ: Phản biện một nghiên cứu, một bài báo; đánh giá khả năng thành công của một giải pháp; chỉ ra các điểm yếu của một lập luận. Các từ khóa thường sử dụng khi đánh giá cấp độ nhận thức này bao gồm: đánh giá, cho ý kiến, bình luận, tổng hợp, so sánh…

6) Sáng tạo: Đạt được cấp độ nhận thức cao nhất này có thể tạo ra cái mới, xác lập thông tin, sự vật mới trên cơ sở những thông tin, sự vật đã có. Ví dụ: Thiết kế một mẫu nhà mới; xây dựng hệ thống các tiêu chí để đánh giá một hoạt động; đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế; xây dựng cơ sở lý luận cho một quan điểm. Các từ khóa thường sử dụng khi đánh giá cấp độ nhận thức này bao gồm: thiết lập, xây dựng, thiết kế, đề xuất…

Qua đó, có thể thấy tư duy sáng tạo chính là cấp độ cao nhất của tư duy mà các hoạt động học tập, nghiên cứu cần hướng tới.

4.2.4. Các cấp độ tư duy sáng tạo

Bất kỳ nhóm làm việc, đơn vị nào cũng muốn đội ngũ của mình biết làm việc sáng tạo. Bản thân các thành viên cũng hiểu là nếu phát huy được tính sáng tạo trong công việc thì họ sẽ nhanh chóng thuận lợi; đạt được nhiều thành tựu tốt đẹp. Nhưng khi đề cập chi tiết hơn về khái niệm tư duy sáng tạo thì thường ta không nắm rõ các cấp độ, mức độ khác nhau của quá trình này.

Theo các chuyên gia về tư duy của con người, năng lực tư duy sáng tạo được thể hiện qua ít nhất năm cấp độ dưới đây.

1) “Nhận ra nhu cầu cần có cách tiếp cận mới”, là cấp độ thấp nhất (cấp độ 1), tương ứng với khi biết:

– Xem xét lại cách tiếp cận truyền thống và tìm các giải pháp có thể có.

– Sẵn sàng đón nhận ý tưởng mới.

2) “Thay đổi các cách tiếp cận hiện có”, là cấp độ cao hơn (cấp độ 2), xuất hiện khi biết:

– Phân tích những điểm mạnh và điểm yếu của các cách tiếp cận hiện có.

Xem thêm: hướng dẫn Tài Liệu Hướng Dẫn Học Excel 2010 Trọn Bộ, Giáo Trình Hướng Dẫn Sử Dụng Excel 2010

– Thay đổi và làm cho các cách tiếp cận hiện có thích hợp hơn với nhu cầu.

3) “Đưa ra cách tiếp cận mới” là cấp độ 3, tương ứng với khả năng biết:

– Tìm kiếm các ý tưởng hoặc giải pháp đã có tác dụng trong các môi trường khác để áp dụng chúng tại doanh nghiệp của mình;

_ Vận dụng các giải pháp đang có theo cách mới lạ hơn nhằm giải quyết vấn đề với hiệu quả cao hơn.

4) “Tạo ra khái niệm mới” là cấp độ cao hơn nữa (cấp độ 4) là khi có được khả năng:

– Tổng hợp các khái niệm cần thiết để định hình một giải pháp mới;

– Tạo ra các mô hình và phương pháp mới cho đơn vị.

5) “Nuôi dưỡng sự sáng tạo” là cấp độ cao hơn cả (cấp độ 5). Năng lực này chỉ có ở một số ít nhà quản lý, nghiên cứu, bao gồm:

– Khuyến khích mọi người thử nghiệm ý tưởng mới khác hẳn cách làm truyền thống;

– Hỗ trợ cho việc thử nghiệm ý tưởng mới nhằm biến ý tưởng thành hiện thực.

4.2.5. Rào cản đối với tư duy sáng tạo

Sự sáng tạo của con người là vô hạn, nhưng không phải ai cũng dám áp dụng những ý tưởng sáng tạo của mình vào thực tế vì nhiều lý do khác nhau. Lý do chính là vì trong quá trình tìm tòi, học hỏi, nghiên cứu theo định hướng sáng tạo, mỗi cá nhân, tập thể có thể phải đối mặt với nhiều rào cản, đặc biệt là các rào cản về tâm lý, tâm thức. Chính những điều đó vô tình trở thành rào cản tư duy sáng tạo. Vậy những nguyên nhân cản trở tư suy sáng tạo là gì, làm thế nào để phát hiện ra và phá vỡ nó? Có thể liệt kê ra một số nguyên nhân như sau (theo www.careerlink.vn)

1) Lối mòn tư duy: Càng trưởng thành, con người càng có nhiều định kiến về mọi thứ. Các định kiến đó là do các lối mòn tư duy đã hình thành trong cuộc sống. Những định kiến này thường làm cho chúng ta không nhìn nhận được thấu đáo những gì mà chúng ta đã biết hay tin tưởng là có thể xảy ra. Chúng ngăn cản sự thay đổi và tiến bộ. Đó là những lối nghĩ thông thường. Đó là sức ỳ của tư duy do đã quen suy nghĩ theo lối mòn.

2) Tin vào kinh nghiệm: Khi thực hiện một kế hoạch hay quyết định một vấn đề gì đó, có thể người ta không cần suy nghĩ, tìm giải pháp tốt nhất, ý tưởng mới, mà lại cho rằng những việc đó mình đã làm nhiều lần rồi, không có gì phải suy nghĩ, đắn đo. Chính sự quá tin tưởng vào kinh nghiệm đó vô tình giết chết tư duy sáng tạo của chính họ.

Do đó, nếu muốn làm một việc gì hay quyết định vấn đề gì đó, dù rất quen thuộc, cũng đừng vội vàng tin tưởng vào những kinh nghiệm có sẵn mà hãy đặt ra những câu hỏi; tìm ra góc độ khác cho vấn đề và thử tìm cách giải quyết theo hướng khác và cách thức khác.

3) Sợ thất bại: Sợ thất bại cũng là nguyên nhân chính gây cản trở tư duy sáng tạo. Những cách nghĩ mới, cách làm mới thường phải đối mặt với nhiều rủi ro và nguy cơ thất bại cao. Người mang tâm lý này thường nghĩ: Tôi không phải là người sáng tạo, tôi không thể giải quyết vấn đề đó, tôi sợ phải trả giá cho sự thất bại. Họ thường cảm thấy không đủ khả năng để giải quyết vấn đề gặp phải: Không đủ năng lực, trình độ, kinh nghiệm, khả năng sáng tạo… Họ gác súng ngay trước khi trận chiến bắt đầu, từ chối vấn đề khi chưa hề giải quyết nó.

Do đó, nhiều người chọn cách an toàn là cứ làm theo cái sẵn có. Chính suy nghĩ như vậy sẽ biến người ta trở thành kẻ nhát gan, không dám khám phá, thử những cái mới, dần dần sẽ làm thui chột sự tư suy sáng tạo của chính mình. Bên cạnh đó, tính lười biếng cũng khiến chúng ta không suy nghĩ, hệ quả tất yếu là ta không thể suy nghĩ sáng tạo… Thực chất, ai cũng có năng lực sáng tạo, chỉ cần có đủ niềm tin và sự dũng cảm, ai cũng có thể tìm ra lời giải cho những vấn đề mà mình gặp phải, ít nhất là những vấn đề liên quan đến cuộc sống cá nhân.

4) Sợ bị chê cười: Khi tạo ra một cái gì đó mới. Người có tâm lý ngại thay đổi thường quan tâm đến việc người khác sẽ nghĩ gì và lo sợ các ý tưởng của mình bị đánh giá như “trò trẻ con”. Thực tế của cuộc sống, những ý tưởng mới ra đời thường có thể bị chế nhạo, chỉ trích. Những người có sáng tạo là những người hay có những ý tưởng khác người và ít được sự chấp thuận của mọi người xung quanh.

Chính vì tâm lý sợ bị chê cười nên nhiều ý tưởng chỉ được dừng lại ở suy nghĩ và không dám bộc lộ ra, lâu dần nó khiến người ta trở nên tự ti với chính những tư tưởng, sáng tạo của mình, không muốn nghĩ đến những ý tưởng được cho là điên rồ đó nữa. Do đó, cần lưu ý: Những tiến bộ được thực hiện chỉ bởi những người có đủ sức mạnh để chịu đựng sự cười chê. Khi vượt qua tâm lý ngại thay đổi, mỗi cá nhân tự cởi bỏ những ràng buộc cho tư duy sáng tạo của mình.

5) Không muốn chấp nhận những ý tưởng khác thường: Nhiều người ngại tư duy sáng tạo, chỉ thích làm theo người khác, chỉ bám theo đuôi của những ý tưởng có sẵn trước đó của người khác mà không muốn động não, tư duy để tìm ra những sáng kiến, ý tưởng mới cho công việc cũng như trong cuộc sống. Những người có tư duy sáng tạo là những người dám vượt qua những quy tắc, chuẩn mực có sẵn trước đó. Còn những người chỉ dám thu mình, chỉ để đảm bảo an toàn cho mình sẽ không thể có những ý tưởng hay, khác lạ, không dám đột phá vượt ra ngoài những quy tắc. Những người đó sẽ khó có được những ý tưởng hay, hướng giải quyết công việc khác cho dù họ có thể đã nghĩ đến nó. Họ luôn giải quyết mọi việc theo hướng mà người khác đã làm; thích làm theo kiểu “nước tới đâu bắc cầu tới đó” để giải quyết công việc.

6) Chấp nhận sự sẵn có: Đó là khi con người chỉ muốn đi theo một lối mòn đã được nhiều người đi trước đó hoặc chính họ là người cũng đã nhiều lần đi trên con đường đó. Họ không muốn sáng tạo ra một con đường mới vì nhiều lý do khác nhau. Hơn nữa, sự có sẵn lúc nào cũng mang lại cảm giác an toàn, cho dù nó có cũ đến mức nào. Nếu có tư tưởng chấp nhận sự có sẵn như vậy, khó có thể sáng tạo. Hãy nhanh chóng thay đổi, nếu không đó sẽ là rào cản rất lớn đối với việc tư duy sáng tạo. Đó là sức ỳ của tư duy do đã quen suy nghĩ theo cái có sẵn. Ngoài ra, tính lười biếng cũng khiến con người không suy nghĩ, mà không suy nghĩ thì không thể suy nghĩ sáng tạo. Cần xóa bỏ khỏi tâm trí cụm từ “Không thể có ý tưởng, cách, giải pháp nào hay hơn nữa!”. Đừng luôn tuân theo những cách giải quyết vấn đề đã có, đừng chấp nhận những ý tưởng mà ai cũng nghĩ ra được, đừng hài lòng với sản phẩm hiện đang có. Luôn đặt ra cho mình một đòi hỏi là hãy tìm tòi điều gì đó mới hơn, lạ hơn, “độc” hơn.

4.2.6. Các phương pháp tư duy sáng tạo

Có khá nhiều phương pháp tư duy sáng tạo đã được các nhà khoa học cụ thể hóa và đúc kết lại. Có thể liệt kê ra một số phương pháp được sử dụng khá phổ biến như sau:

4.2.6.1. Phương pháp đối tượng tiêu điểm

Phương pháp này được Giáo sư trường Đại học Berlin F. Kunze đưa ra những năm 1926, với tên gọi ban đầu là phương pháp danh mục (catalogue), và được nhà khoa học Hoa Kỳ C. Whiting hoàn thiện.

Phương pháp đối tượng tiêu điểm là một phương pháp tích cực hóa tư duy trong khoa học sáng tạo.Ý tưởng của phương pháp là cải tiến đối tượng ta nghiên cứu cải tiến (được gọi là đối tượng tiêu điểm), bằng cách “lai hóa”, chuyển giao những tính chất, chức năng của những đối tượng ngẫu nhiên khác vào đối tượng cần cải tiến.

Các bước tiến hành phương pháp này bao gồm:

– Bước 1: Chọn đối tượng tiêu điểm cần cải tiến;

– Bước 2: Chọn 3,4 đối tượng ngẫu nhiên;

– Bước 3: Liệt kê vài đặc điểm về đối tượng được chọn;

– Bước 4: Kết hợp các đặc điểm của đối tượng được chọn với đối tượng tiêu điểm;

– Bước 5: Chọn lọc sự kết hợp khả thi từ các ý tưởng có ở bước 4.

Ví dụ: Một công ty sản xuất nông sản cần sáng tạo hình ảnh mới cho sản phẩm trái cà tím (cà dê) để quảng cáo, làm quà tặng.

Áp dụng theo phương pháp “Lựa chọn đối tượng tiêu điểm” ta có:

– Bước 1: Chọn đối tượng tiêu điểm: cà tím.

– Bước 2: Chọn 2 đến 3 đồ vật ngẫu nhiên để lấy đặc điểm của đồ vật này vào đối tượng tiêu điểm.

Ví dụ: a. Ly uống rượu

USB

– Bước 3: Phân tích, liệt kê đặc điểm tất cả đối tượng, đồ vật:

Cà tím USB Ly uống rượu
Cuống xanh Có chốt cắm Chứa rượu
Thân tím Màu đa dạng Thủy tinh
Dài Dài Dễ vỡ

– Bước 4: Kết hợp các đặc điểm của đồ vật với đối tượng tiêu điểm.

– Bước 5: Lựa chọn một vài ý tưởng phù hợp nhất trong các ý tưởng ở bước 4 để phát triển sản phẩm.

Ví dụ như các hình ảnh về ý tưởng sản phẩm:

Cà tím USB Ví dụ Ly uống rượu Ví dụ
Cuống xanh Có chốt cắm  

*
Chứa rượu  

*
Thân tím Màu đa dạng Thủy tinh
Dài Dài Dễ vỡ

4.2.6.2. Phương pháp tư duy hệ thống

Nhân loại đã thành công qua thời gian trong việc phát triển tri thức, giải quyết vấn đề bằng phương pháp phân tích để hiểu vấn đề. Phương pháp này thường nghiên cứu từng phần riêng lẻ rồi rút ra kết luận về cái toàn thể. Đó là cách tư duy tuyến tính.

Cách tư duy tuyến tính này đang ngày một trở nên không hiệu quả khi áp dụng cho các vấn đề hiện đại. Điều này là vì hầu hết các vấn đề ngày nay đều có tương quan với nhau theo cách không tuân theo quy luật tuyến tính. Phương thức để giải quyết các vấn đề hiện đại phải là cách tư duy hữu cơ và phi tuyến, thường được đề cập đến như là phương pháp tư duy hệ thống.

*

Hình 4.7. Tư duy hệ thống cho cái nhìn tổng thể

Cách tiếp cận tư duy hệ thống về cơ bản khác với cách tiếp cận phân tích truyền thống. Đặc điểm chủ yếu của phương pháp tư duy hệ thống là ở cách nhìn toàn thể và do cách nhìn toàn thể mà thấy được những thuộc tính tương tác của hệ thống. Các thuộc tính tương tác là của toàn thể mà từng thành phần không thể có. Điều này đôi khi làm nảy sinh những kết luận khác biệt đáng lưu ý so với kết luận do cách phân tích truyền thống đem lại.

Đặc trưng của tư duy hệ thống làm cho nó rất có hiệu quả trong hầu hết các kiểu vấn đề khó giải quyết nhất, nhất là những vấn đề bao gồm các yếu tố phức tạp, những vấn đề phụ thuộc rất nhiều vào quá khứ hay hành động của các yếu tố khác và những hành động bắt nguồn từ sự phối hợp không hiệu quả giữa những yếu tố cấu thành. (Theo: Phương pháp luận sáng tạo, đổi mới _ Tài liệu nội bộ _ Trung tâm TSK)

4.2.6.3. Phương pháp thử và sai (Trial & Error)

Nghiên cứu và làm các thí nghiệm về tư duy sáng tạo, các nhà tâm lý nhận thấy, phần lớn mọi người khi có vấn đề thường nghĩ ngay đến việc áp dụng các ý tưởng sẵn có trong trí nhớ. Sau khi phát hiện ra những “phép thử” đó sai, người giải tiến hành các phép thử khác.

*

Hình 4. 8. Thử và sai: Phương pháp cổ điển

Nguyên tắc của phương pháp “Thử và Sai” là tuần tự thử triển khai các giả thuyết, loại bỏ dần các giả thuyết không đúng cho đến khi xác định được giải pháp tốt nhất. Phương pháp này được ứng dụng phổ biến trong cuộc sống khi đối diện với vấn đề mới phát sinh và cả trong nghiên cứu khoa học. Phương pháp này được thực hiện tuần tự qua một số bước và lặp lại cho đến khi đạt được kết quả mong muốn.

– Bước 1. Thử (Trial): Triển khai thử một giả thuyết được xem là có triển vọng.

– Bước 2. Sai (Error): Sau khi thử triển khai giả thuyết đã chọn mà kết quả thu được không như ý, hay không đạt mục tiêu đề ra, chuyển qua bước tiếp theo.

– Bước 3. Phân tích: Phân tích tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến cái sai.

– Bước 4. Sửa sai: Xây dựng một giả thuyết mới có khả năng đạt được kết quả, tránh những cái sai của giả thuyết trước.

– Bước 5. Lặp lại bước 1, và các bước tiếp theo với giả thuyết mới như một chu kỳ mới cho đến khi đạt được mục tiêu.

Nhược điểm cơ bản của phương pháp này là:

1) Số phép thử và sai có thể nhiều, gây ra lãng phí trí lực, sức lực, phương tiện, thời gian, tốn kém và không thúc đẩy phát huy tư duy đột phá.

2) Các phép thử, cách đánh giá đúng – sai có thể mang tính chủ quan của con người, nhận định “sai”có thể mang tính chủ quan (đôi lúc cái “sai” nếu phát triển tiếp, có thể đi đến lời giải đúng).

3) Sự tồn tại của tính ỳ tâm lý. Kiến thức và kinh nghiệm riêng của người giải luôn có khuynh hướng đưa người giải đi theo con đường mòn đã hình thành trong quá khứ.

4.2.6.4. Phương pháp động não

Động não (brainstorming), còn gọi là não công hay tập kích não là một phương pháp dùng để phát triển nhiều giải đáp sáng tạo cho một vấn đề. Phương pháp này hoạt động bằng cách nêu các ý tưởng tập trung trên vấn đề, từ đó rút ra rất nhiều giải pháp căn bản cho nó.

*

Hình 4.9. Tình ý tâm lý trong phương pháp thử và sai

Từ động não được đề cập đầu tiên bởi Alex Faickney Osborn, năm 1939. Ông đã miêu tả động não như là: “Một kỹ thuật hội ý bao gồm một nhóm người nhằm tìm ra lời giải cho vấn đề đặc trưng bằng cách góp nhặt tất cả ý kiến của nhóm người đó nảy sinh trong cùng một thời gian theo một nguyên tắc nhất định”. Ngày nay, phương pháp này không nhất thiết phải cần có nhiều người mà một người cũng có thể tiến hành.

*

Hình 4.10. Thu thập ý kiến với phương pháp động não

Tuy nhiên, số lượng người tham gia nhiều sẽ giúp cho phương pháp tìm ra lời giải được nhanh hơn hay toàn diện hơn, nhờ vào nhiều góc nhìn khác nhau bởi các trình độ, trình tự khác nhau của mỗi người.

Với phương pháp này, các thành viên được cổ vũ tham gia một cách tích cực, không hạn chế các ý tưởng, nhằm tạo ra “cơn lốc” các ý tưởng. Các ý kiến về vấn đề được nêu ra một cách rất phóng khoáng và ngẫu nhiên theo dòng suy nghĩ càng nhiều càng tốt, không giới hạn.

Các điểm chính cần lưu ý khi sử dụng phương pháp động não:

– Xác định vấn đề một cách thật rõ ràng, phải đưa ra được các chuẩn mực cần đạt được. Trong bước này thì vấn đề sẽ được cô lập hoá với môi trường và các yếu tố khác.

– Tập trung vào vấn đề: Tránh các ý kiến hay các điều kiện bên ngoài có thể làm lạc hướng buổi làm việc. Trong giai đoạn này người ta thu thập tất cả các ý kiến có liên quan trực tiếp đến vấn đề cần giải quyết (thường có thể tập hợp viết tất cả các ý kiến lên giấy hoặc bảng).

– Không đưa bất kỳ một bình luận hay phê phán đúng sai gì về các ý kiến trong lúc thu thập. Những ý tưởng thoáng qua trong đầu nếu bị các thành kiến hay phê bình sẽ dễ bị gạt bỏ và như thế sẽ làm mất sự huy động tổng lực của buổi động não.

– Khuyến khích tinh thần tích cực. Mỗi thành viên đều cố gắng đóng góp và phát triển các ý kiến. Cố gắng đưa ra càng nhiều ý càng tốt về mọi mặt của vấn đề, kể cả những ý kiến không thực tiễn hay ý kiến khác thường.

4.2.6.5. Phương pháp DOIT

DOIT – Một phương pháp đơn giản để sáng tạo. Phương pháp này được mô tả trong quyển sách The Art of Creative Thinking (Nghệ thuật tư duy sáng tạo) của Robert W. Olson năm 1980. DOIT là chữ viết tắt bao gồm:

D – Define Problem (Xác định vấn đề);

O – Open Mind and Apply Creative Techniques (Cởi mở ý tưởng và áp dụng các kỹ thuật sáng tạo);

I – Identify the best Solution (Xác định giải pháp tối ưu);

T– Transform (Chuyển đổi).

Cụ thể hóa các bước thực hiện phương pháp này như sau:

– Xác định vấn đề:

+ Kiểm tra lại để đảm bảo ta nắm vững vấn đề. Hãy hỏi lặp đi lặp lại rằng tại sao vấn đề tồn tại, cho tới khi nào bạn nhận ra cội rễ của vấn đề.

+ Hãy nắm rõ các giới hạn biên của vấn đề được rút ra từ các đối tượng những điều mà ta muốn đạt tới, và những yếu tố ràng buộc những hoạt động của ta.

+ Hãy chia nhỏ vấn đề lớn ra thành nhiều cho tới khi tất cả các phần nhỏ đều có thể xác định, kiểm soát được.

– Cởi mở ý tưởng và áp dụng các kỹ thuật sáng tạo:

+ Một khi đã nắm rõ vấn đề cần giải quyết, thì đó là lúc đã có đủ điều kiện để bắt đầu đề xuất ra các lời giải khả dĩ. Hãy chấp nhận tất cả những ý tưởng mới lạ, sáng tạo nảy sinh.

+ Ở giai đoạn này, không cần đánh giá về các ý tưởng được đưa ra (cởi mở ý tưởng). Thay vào đó, hãy cố đưa ra càng nhiều càng tốt các ý kiến khả dụng (và cả những ý có vẻ tồi, nhưng thật ra chúng có thể châm ngòi cho các ý tưởng tốt về sau).

Có thể dùng tất cả các phương pháp tư duy đã đề cập trước đây để tìm tất cả các ý tưởng có thể là lời giải đúng cho vấn đề. Mỗi phương pháp sẽ cho ta những điểm mạnh và những điều lợi ích.

Có thể tham vấn nhiều người có nền tảng học vấn, có hiểu biết, và có mức độ thông minh khác nhau cho ý kiến về các lời giải. Mỗi cá nhân khác nhau sẽ có cách tiếp cận khác nhau và cái nhìn khác nhau về cùng một vấn đề, các ý kiến dị biệt, khác thường sẽ góp phần vào quá trình chung.

– Xác định giải pháp tối ưu:

+ Trong bước này hãy lựa ra ý tưởng hay nhất trong các ý tưởng đã nêu ra. Thông thường thì ý tưởng tốt nhất được nhận ra một các hiển nhiên. Nhưng nhiều lúc, một ý kiến tiềm ẩn lại có giá trị khi được xem xét, phát triển chi tiết và có thể có giá trị hơn những ý kiến đã đề ra, lựa chọn trước đó.

+ Hãy xem xét các giới hạn biên tiềm tàng (trong trường hợp xấu nhất cũng như tốt nhất) có thể xảy ra khi thực thi, áp dụng giải pháp được lựa chọn. Điều chỉnh lại giải pháp nếu cần để giảm nhẹ tối đa hậu quả tiềm tàng và tăng cường tối đa những ảnh hưởng tích cực tiềm năng.

– Chuyển đổi:

+ Sau khi xác định và đưa ra giải pháp cho vấn đề, thì bước cuối cùng là thực hiện giải pháp. Biến nó thành hành động. Bước này không chỉ bao gồm sự phát triển sản phẩm bền vững, mà còn bao gồm cả các mặt khác (như là triển khai và ứng dụng nếu vấn đề có liên quan đến việc nghiên cứu ứng dụng). Điều này có thể cần nhiều thì giờ và công sức.

+ Có rất nhiều nhà sáng tạo thất bại trong giai đoạn này. Họ sẽ có nhiều vui sướng để sáng chế ra nhiều sản phẩm và dịch vụ mới. Nhưng họ lại thất bại trong việc phát triển, áp dụng chúng.

4.2.7. Phương pháp 5W1H

5W1H viết tắt từ các từ sau: What? (Cái gì?), Where? (Ở đâu?), When? (Khi nào?), Why? (Tại sao?), How? (Như thế nào?), Who? (Ai?)

Ví dụ: Khi nghiên cứu một cuốn sách chuyên ngành, đối diện với một công việc, thực hiện một ý tưởng, cần đặt những câu hỏi sau:

*

Hình 4. 11. Sơ đồ phương pháp 5W1H

– What? (Cái gì?):

+ Cái đó là gì?

+ Cuốn sách này viết về cái gì?

+ Công việc này là gì?

……Where? (Ở đâu?):

+ Cuốn sách nằm trong lĩnh vực nào, thuộc loại sách nào?

+ Công việc diễn ra ở đâu?

+ Ý tưởng này sẽ được thuyết trình ở đâu?

…….

– When? (Khi nào?):

+ Bối cảnh của cuốn sách viết khi nào?

+ Sự kiện này xảy ra khi nào?

+ Khái niệm này bắt đầu xuất hiện khi nào?

…….

– Why? (Tại sao?):

+ Tại sao phải nghiên cứu vấn đề này?

+ Tại sao tác giả cuốn sách lại lựa chọn cách sắp xếp như thế này?

+ Tại sao thí nghiệm này không diễn ra đúng như dự kiến?

……

– Who? (Ai?):

+ Ai là người viết cuốn sách này, viết cho ai?

+ Ai là người sẽ thực hiện công việc với tôi?

+ Ai đã nghiên cứu vấn đề này?

……

– How (Như thế nào?):

+ Công việc này sẽ được bắt đầu như thế nào?

+ Chiếc máy này hoạt động như thế nào?

+ Như thế nào là một công việc thành công?

…….

Phương pháp tư duy 5W1H rất đơn giản nhưng lại hiệu quả nếu chúng ta biết sử dụng và tận dùng tối đa hiệu quả của nó mang lại một cách khôn khéo.

Việc tiếp cận giải quyết công việc nếu sử dụng hợp lý 5W1H sẽ khiến công việc đầy đủ, ít gặp thiếu sót. Sử dụng một cách sáng tạo có thể phát triển ý tưởng của bản thân.

Công cụ 5W1H thoạt nhìn rất đơn giản nhưng lại tỏ ra rất hiệu quả nếu chúng ta sử dụng nó đúng đắn, khéo léo và thông minh.

Xem thêm: Nghị Luận Văn Học Lớp 9 Bài Sang Thu Của Hữu Thỉnh Cực Hay, Phân Tích Bài Thơ Sang Thu Của Hữu Thỉnh

Hiện nay, phương pháp này còn được bổ sung thêm một số yếu tố để phát triển, ví dụ: 5W2H, 5W1H2C5M… Nhưng phương pháp này vẫn là nền tảng cơ bản nhất.

*

Hình 4.12. Sơ đồ phương pháp 5W2H

4.2.8. Phương pháp bản đồ tư duy

Phương pháp bản đồ tư duy (mind map) được phát triển vào cuối thập niên 60 (của thế kỷ 20) bởi Tony Buzan. Nó được xem như là một phương tiện mạnh để tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não. Nó có thể dùng như một cách để ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp, hay để phân tích một vấn đề ra

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Tiểu luận

Related Articles

Trả lời

Back to top button